Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
b) DN VVN đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội
Thực tế tiêu dùng xã hội hiện nay có rất nhiều mặt hàng mà người tiêu
dùng chỉ có nhu cầu ít hoặc cá biệt song chất lượng, mẫu mã, chủng loại,
kiểu cách rất đa dạng và không ngừng thay đổi. Trong trường hợp này các
DN VVN khi khai thác các thị trường ngách hoàn toàn có thể đáp ứng những
nhu cầu nói trên của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện. Đặc
biệt có những hàng hóa người tiêu dùng có nhu cầu không thể sản xuất ở các
doanh nghiệp quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao
động thủ công, phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ hoặc hộ gia đình.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, các DN VVN cũng đã
tích cực tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, nhất là kinh doanh hàng thủ
công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản xuất khẩu có giá trị cao, qua đó
góp phần tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước.
c) DN VVN góp phần tạo ra sự năng động cho nền kinh tế, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Với ưu thế về tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, DN
VVN có khả năng nhanh chóng chuyển đổi mặt hàng, chuyển hướng sản
xuất và đổi mới công nghệ cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh
doanh. Do vậy, các Doanh nghiệp này góp phần làm cho nền kinh tế trở nên
năng động hơn, tăng tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày
càng tốt hơn.
d) DN VVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế, khai thác
tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, là trụ cột kinh tế địa
phương.
Nếu như các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh
tế của đất nước, thì DN VVN lại có mặt ở khắp các địa phương, khai thác
tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, đóng góp quan trọng vào thu ngân
sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
e) DN VVN chiếm tỷ lệ cao về số lượng và khả năng thu hút lao động
và đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu vào ngân sách.
Có đặc điểm là năng động, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng lại có số lượng ngày càng tăng nhanh nên khả năng
đóng góp vào thu nhập quốc dân và nguồn thu ngân sách của các DDN VVN
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
ngày càng tăng, nhất là khi gia nhập vào WTO thì nguồn thu từ Doanh
nghiệp Nhà nước, từ thuế xuất nhập khẩu sẽ khó được đảm bảo.
Trong khi đó, các DN VVN có kỹ thuật sản xuất chủ yếu là nửa cơ giới
và lao động chân tay chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn các Doanh nghiệp này
hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, xây
dựng giao thông vận tải, chế biến nông lâm hải sản, … nên nó có khả năng
thu hút nhiều lao động, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu
nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động.
f) DN VVN bước đầu tham gia vào quá trình hình thành mối liên kết
giữa DN VVN và các Doanh nghiệp lớn.
Có thể nói đây là quan hệ hai chiều, ràng buộc và hỗ trợ nhau: các doanh
nghiệp lớn đảm bảo vững chắc cho các DN VVN về thị trường, tài chính,
công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược lại, DN VVN
đảm bảo cho các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, hợp
đồng phụ và thành lập mạng lưới vệ tinh phân phối sản phẩm.
DN VVN hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, tuy nhiên vai trò của chúng
đối với sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận. Cùng với các
doanh nghiệp lớn, các DN VVN cùng góp phần tạo ra sự cân đối cho nền
kinh tế. Một nền kinh tế nếu chỉ toàn các DN VVN thì sẽ không thể tích tụ
và tập trung vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ. Trong khi
đó, các Doanh nghiệp lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không có sự hỗ trợ
của các DN VVN. Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững và ổn định thì
cần phải đặt vai trò của hai nhóm Doanh nghiệp này trong thế cân bằng, từ
đó tìm cách hỗ trợ nhau khi cần thiết.
DN VVN ngày càng thể hiện là một hướng đi đúng, vai trò của các
Doanh nghiệp này ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên hiện nay còn tồn
tại thực tế là các DN VVN phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa
có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh vươn ra bên ngoài. Do vậy các
Doanh nghiệp này hiện nay rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các
chính sách khuyến khích DN VVN phát triển cũng như sự hỗ trợ của các cơ
quan, ban ngành, các Hiệp hội,… Trong đó đặc biệt phải kể đến sự hỗ trợ
các doanh nghiệp này về vốn từ các NH TM – trung gian tài chính lớn nhất
của nền kinh tế.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
1.2 Hoạt động cho vay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của NH TM
Trong nền kinh tế, các NH TM là tổ chức tài chính quan trọng nhất. Các
cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và thậm chí cả Chính phủ đều nghĩ đến các
dịch vụ của Ngân hàng để hỗ trợ cho các vấn đề tài chính của mình. Luật các
tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ghi: “Hoạt động Ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Trong đó cho vay là hoạt động cơ bản
nhất và thường xuyên nhất. Có thế nói cho vay là hoạt động ngân hàng tiêu
biểu để phân biệt Ngân hàng với các tổ chức tài chính khác.
Cho vay có thể được định nghĩa là một hình thức cấp tín dụng, theo đó
các tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi ( Mục 2 – Điều 3 – 1627/2001/QĐ-NHNN)
Cho vay DN VVN của NH TM là các NH TM giao cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Về tính chất nghiệp vụ, cho vay DN VVN cũng giống như các hoạt động
truyền thống khác, phải thực hiện đầy đủ và chặt chẽ qui trình cho vay cũng
như đảm bảo các nguyên tắc và dựa trên chính sách cho vay của NHTM.
Tuy nhiên đối tượng vay vốn ở đây là các DN VVN, có những đặc điểm
khác với các đối tượng vay vốn khác, đó là tuy có tư cách pháp nhân, nhưng
vốn tự có lại ít, không đủ tài sản thế chấp nên khó vay được vốn, không đủ
vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, không có nhiều lợi nhuận và tài sản vì
thế cũng chẳng có nhiều tài sản thế chấp. Điều này đã tạo nên một cái vòng
luẩn quẩn trong việc vay vốn Ngân hàng cho các Doanh nghiệp này, trong
khi đó tình hình tài chính không minh bạch và hạn chế về việc nắm bắt thông
tin cũng như tiếp xúc với các dịch vụ của Ngân hàng, đã tạo cho các Doanh
nghiệp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn của các NH TM.
Mặc dù vậy, do có một vai trò rất lớn và ngày càng được khẳng định
trong nền kinh tế, trong khi số lượng lớn, ngành nghề đa dạng, nhu cầu về
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
vốn lại rất tiềm năng, nên các DN VVN là nhóm khách hàng cần được sự
quan tâm, chú trọng của các NH TM.
1.2.2 Phân loại
Để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất, Ngân hàng đưa ra rất
nhiều sản phẩm cho vay khác nhau tương ứng với sự đa dạng trong mục đích
vay vốn, sử dụng vốn và hoàn trả vốn của khách hàng, giúp họ có thể dễ
dàng lựa chọn các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn vay đồng thời giúp Ngân hàng dễ dàng hơn trong việc thực hiện
nghiệp vụ cũng như quản lý các khoản vay, đảm bảo tính an toàn tốt hơn và
có tính sinh lời cao hơn.
Mỗi sản phẩm cho vay của Ngân hàng bao gồm các đặc tính:
a) Đối tượng vay vốn:
Ngân hàng có thể phân chia danh mục cho vay của mình thành các sản
phẩm cho cá nhân vay – sản phẩm cho vay tiêu dùng, sản phẩm cho các
doanh nghiệp vay – sản phẩm cho vay kinh doanh và sản phẩm dành cho
chính phủ cũng như các tổ chức tín dụng khác. Đây là ba nhóm đối tượng
vay vốn chủ yếu nhất của Ngân hàng những mỗi một nhóm đối tượng có
những đặc trưng riêng dẫn đễn việc thực hiện nghiệp vụ cho vay và quản lý
khoản vay của Ngân hàng với từng đối tượng cũng có những điểm khác biệt.
b) Mục đích sử dụng vốn vay:
Mục đích sử dụng vốn vay cho biết khách hàng dự định sẽ làm gì với
khoản vay. Mỗi nhóm đối tượng trên sẽ có những mục đích sử dụng vốn rất
khác nhau. Ngân hàng cho chính phủ vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
chính phủ hoặc để đầu tư phát triển thông qua các dự án. Các doanh nghiệp
vay ngân hàng để tăng thêm vốn cho sản xuất kinh doanh, để thanh toán, để
mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ…Trong
khi đó, các cá nhân, hộ gia đình vay tiền Ngân hàng nhằm thỏa mãn các nhu
cầu mua sắm tiêu dung lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển…
c) Thời hạn vay:
Thời hạn vay là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách
hàng khoản cho vay, được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi trong
hợp đồng tín dụng. Tùy vào mục đích sử dụng vốn vay của đối tượng vay
vốn mà khoản vay đó là ngắn hạn ( nhỏ hơn 12 tháng) hay trung, dài hạn
(lớn hơn 12 tháng). Nếu doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để đáp ứng khả
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
năng thanh toán tức thời thì đó sẽ là khoản vay ngắn hạn, còn nếu để mua
sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực hiện các dự án nhất định thì đó là
các khoản vay trung dài hạn. Còn đối với cá nhân và các hộ gia đình, các
khoản vay tiêu dùng đa phần là các khoản vay trung dài hạn. Phân chia các
khoản vay theo thời hạn giúp Ngân hàng có thể chủ động trong việc huy
động, giải ngân, và thu hồi vốn và lãi vay, đảm bảo được tính thanh khoản
trong khi vẫn có thể đem lại khả năng sinh lời cao nhất.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
d) Phương thức vay:
Do mục đích vay vốn và thời hạn vay vốn của các đối tượng vay rất đa
dạng, do vậy Ngân hàng cần phải đưa ra các sản phẩm cho vay có quá trình
giải ngân, thu hồi lãi và gốc hết sức linh hoạt, tạo điều kiện cho khách hàng
sử dụng đồng vốn một cách an toàn nhất và hiệu quả nhất. Người tiêu dùng
thường sử dụng hình thức thấu chi thông qua thẻ tín dụng hoặc cho vay trả
góp để mua các tài sản có giá trị lớn như mua bất động sản và ô tô. Các
doanh nghiệp tùy vào mục đích vay vốn áp dụng các phương thức khác
nhau: Nếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thì có thế vay
trực tiếp từng lần, mỗi lần vay phải làm đơn và trình ngân hàng phương án
sử dụng vốn vay. Nếu doanh nghiệp là khách hàng vay mượn thường xuyên,
vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh lại thường
áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức. Trong kì khách hàng có thể vay
trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng.
e. Tài sản đảm bảo:
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng phải có tài
sản đảm bảo khi xin vay. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro
trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Những biến cố
không mong đợi có thể gây cho ngân hàng tổn thất rất lớn. Chính vì vậy, trừ
những khách hàng có uy tín cao, nhiều khách hàng phải có tài sản đảm bảo
để ngân hàng có thể có được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu
nhập từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ. Các hình thức của tài
sản đảm bảo cũng hết sức đa dạng theo mục đích vay vốn của khách hàng.
Phân loại theo tính chất an toàn thì tài sản đảm bảo gồm hai loại: loại 1 là tài
sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách hàng haợc bảo lãnh của bên
thứ ba cho khách hàng còn loại 2 là tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ
của ngân hàng, ví dụ như khách hàng vay tiền ngân hàng để mua ô tô thì ô tô
đó sẽ trở thành tài sản đảm bảo loại 2. Nếu phân loại theo hình thức vật chất
thì có thể đảm bảo bằng hàng hóa trong kho như nguyên, nhiên, vật liệu, sản
phẩm, đảm bảo bằng tài sản cố định, đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của
người thứ ba, đảm bảo bằng chứng khoán, đảm bảo bằng bảo lãnh của người
thứ 3. Đảm bảo có thể bằng phương pháp cầm cố hoặc thế chấp. Cầm cố là
hình thức theo đó người vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo
sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết, thường là thời gian nhận tài trợ.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
Trong khi đó, thế chấp là hình htức theo đó người vay phải chuyển các giấy
tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài tài sản đảm bảo sang ngân hàng
nắm giữ trong thời gian cam kết.
f. Lãi suất:
Với mỗi một sản phẩm chứa đựng các đặc tính trên, Ngân hàng sẽ đưa ra
một mức lãi suất để có thể đảm bảo tính sinh lợi và an toàn và vẫn đảm bảo
được khả năng cạnh tranh. Lãi suất là chi phí của người vay nhưng lại là thu
nhập của NHTM.
Trên đây là các đặc tính cơ bản của bất kỳ một sản phẩm cho vay nào của
ngân hàng. Đó cũng chính là nội dung cơ bản của hợp đồng cho vay được ký
kết giữa Ngân hàng và khách hàng, là cơ sở để cả hai bên đảm bảo quyền lợi
và nghĩa vụ của mình. Khách hàng cần phải nắm rõ các đặc tính này để lựa
chọn một sản phẩm vay tối ưu nhất cho mình. Còn về phía ngân hàng, nắm
rõ các đặc tính này là vấn đề có tính sống còn. Chính vì vậy những vấn đề
này còn được quy định rất rõ ràng và chặt chẽ bởi chính sách tín dụng nói
chung và chính sách cho vay của mỗi ngân hàng nói riêng.
1.2.3 Vai trò của cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM.
a) Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn nhỏ hiện nay là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều khó khăn trong quá
trình hoạt động kinh doanh của các DN VVN. Để giải quyết khó khăn về vốn
của các Doanh nghiệp này có thể xuất phát từ 3 nguồn chủ yếu
Vốn tự có: vốn riêng của chủ Doanh nghiệp, vốn đóng góp của các cổ
đông.
Vốn phi chính thức: vay bạn bè, gia đình, vay nặng lãi trên thị trường
phi chính thức.
Vốn chính thức: vay từ các NH TM, tổ chức tín dụng, các nguồn vốn
phi chính phủ và chính phủ.
Có thể nói trong các nguồn vốn trên thì nguồn vốn linh hoạt nhất, dồi dào
nhất là vốn vay từ phía các NHTM, do đó đây là nguồn vốn có vai trò rất to
lớn đối với các DN VVN nhằm mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công
nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…. Có thể nói hoạt
động cho vay của NHTM không chỉ là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ cho sự ra đời
và phát triển của các DN VVN mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của các Doanh nghiệp này
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
b) Đối với Ngân hàng thương mại
Hiện nay nhược điểm chính của các NHTM Việt Nam là khả năng cung
cấp sản phẩm bị hạn chế: chỉ có các khoản cho vay thông thường và hầu như
không có gì khác hơn. Tuy nhiên, hoạt động cho vay tạo ra chưa đến 2/3
doanh thu, và dư nợ cho vay chỉ hơn phân nửa của tiền gửi trong khi đó
doanh thu của các NHTM lại chủ yếu từ các hoạt động tự doanh, chẳng hạn
như đầu tư vào các loại trái phiếu chính phủ hay đầu tư liên ngân hàng; đây
là một lĩnh vực an toàn hơn nên dĩ nhiên không thu được lợi nhuận nhiều
như hoạt động cho vay. Trong khi đó, thu nhập từ phí dịch vụ cũng kém phát
triển.
Vì vậy để tăng hiệu quả sử dụng vốn huy động cũng như gia tăng thu
nhập thì các NHTM cần phải chú trọng hơn nữa hoạt động cho vay của
mình. Hiện nay rất nhiều NHTM đã xác định trọng tâm của hoạt động cho
vay của mình là tập trung vào các DN VVN với một số lý do sau:
Các khoản vay của DN VVN có doanh số và dư nợ vay không quá lớn
như các doanh nghiệp nhà nước lớn, dẫn đến tình trạng các NHTM phải cho
vay hợp vốn mà rủi ro của các khoản vay này không hề thấp so với các đối
tượng khác, nhưng cũng không quá nhỏ như các khoản cho vay tiêu dùng
trong khi vẫn phải thực hiện đầy đủ và chặt chẽ quy trình cho vay.
Trong nền kinh tế hiện nay, các DN VVN chiếm số lượng áp đảo và được
Nhà nước chủ trương là thành phần quan trọng của nền kinh tế từ năm
2006-2010, và đưa ra mục tiêu đạt 500,000 DN VVN vào năm 2010. Vì
vậy, trong thời gian tới, nhu cầu về vốn của các DN này sẽ rất lớn và rất triển
vọng. DN VVN sẽ trở thành những khách hàng hết sức tiềm năng và đem lại
nguồn thu từ lãi chính cho các NHTM.
Một vai trò quan trọng khác của hoạt động cho vay DN VVN đó là hiện
nay rất nhiều các tổ chức cũng như các Ngân hàng nước ngoài đã tài trợ
những khoản vốn rất lớn trong đó có nguồn là ưu đãi, có nguồn là không
hoàn lại để khuyến khích các DN VVN Việt Nam phát triển. Các nguồn này
sẽ đến với các DN VVN thông qua các quỹ hỗ trợ cũng như các NHTM Việt
Nam. Vì vậy nếu Ngân hàng nào chú trọng phát triển hoạt động này thì khả
năng nhận được nguồn vốn hỗ trợ này là rất cao.
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại
1.3.1. Nhân tố thuộc về phía Ngân hàng thương mại
Khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bất kỳ của NH TM thì
điều trước tiên là phải xem xét các nhân tố chủ quan, tức là các nhân tố xuất
phát từ chính bản thân Ngân hàng. Dưới đây là một số các nhân tố không chỉ
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DN VVN nói riêng mà còn là các nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay nói chung vì DN VVN chỉ là một trong
những đối tượng cho vay của NH TM.
a) Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế hiện đại, các NHTM muốn tồn tại và kinh doanh có lợi
nhuận cao thì phải xây dựng được cho mình một chiến lược kinh doanh hiệu
quả. Vì thị trường ngày càng đa dạng, nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày
càng tăng cao, NH TM trong giới hạn nguồn lực của mình không thể đáp
ứng hết. Trong khi đó, các NHTM hiện nay lại đang phải chịu sức ép về đa
dạng hóa sản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh. Do đó một chiến lược kinh
doanh hiệu quả là rất cần thiết để giúp Ngân hàng có một phương hướng
phát triển nhất quán, khai thác tốt nhất năng lực hiện có của mình, đồng thời
giúp Ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất những biến đổi trong
môi trường kinh doanh.
Hiện nay rất nhiều NHTM đã chuyển trọng tâm sang hoạt động cho vay
DN VVN thậm chí xác định cho vay DN VVN là một bước chuyển đổi tích
cực trong cơ cấu đầu tư, hay là hoạt động mũi nhọn bởi Nhà nước chủ
trương phát triển DNNVV giai đoạn 2006- 2010 sẽ trở thành bộ phận cấu
thành quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010
và các NHTM cũng ngày càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của đối
tượng khách hàng này trong hoạt động của mình.
b) Chính sách cho vay của Ngân hàng
Một Ngân hàng trong từng thời kỳ sẽ có chính sách cho vay riêng của
mình, phản ánh cương lĩnh tài trợ của Ngân hàng đó nhằm đạt được các mục
đích đã đề ra. Chính sách cho vay này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô,
tính chất các khoản vay cũng như phương thức cho vay của Ngân hàng. Vì
vậy sẽ ảnh hưởng đến các sản phẩm cho vay mà Ngân hàng đưa ra cho các
DN VVN. Trong đó chính sách này sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến tài sản đảm
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
================================================================
===================
bảo và lãi suất. Vì tài sản đảm bảo là nội dung quan trọng nhằm hạn chế rủi
ro trong hoạt động của Ngân hàng nhưng là khó khăn của DN VVN, còn lãi
suất là thu nhập của Ngân hàng nhưng lại là chi phí của Doanh nghiệp. Vì
vậy chính sách cho vay sẽ là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay DN VVN của NHTM.
Như vậy, việc đưa ra một chính sách cho hợp lý sẽ giúp Ngân hàng hoạt
động hiệu quả hơn đồng thời đáp ứng ngày càng cao hơn các nhu cầu đa
dạng của khách hàng.
c) Quy trình cho vay của Ngân hàng:
Nếu qui trình cho vay đơn giản, không chặt chẽ sẽ dẫn đến nguy cơ mang
lại rủi ro cao cho Ngân hàng nhưng nếu quá phức tạp, cứng nhắc thì sẽ gây
bất tiện cho khách hàng. Do vậy đưa ra một qui trình phân tích khoản vay là
công việc rất quan trọng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng, đặc biệt là
đối với các DN VVN vì các Doanh nghiệp này có nhược điểm là vốn chủ sở
hữu thấp trong khi khả năng lập kế hoạch kinh doanh và việc minh bạch báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp này còn rất hạn chế.
d) Khả năng tài chính của Ngân hàng:
Khả năng huy động vốn tiền gửi và vay mượn trên các thị trường tài
chính, nguồn vốn tự có, khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản sinh lời, quy mô
tài chính, và khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn
đến chính sách cho vay , do đó cũng tác động đến hoạt động cho vay của
Ngân hàng. Nếu vốn chủ sở hữu của Ngân hàng lớn, ngân hàng có thể theo
đuổi chính sách cho vay mạo hiểm, nghiêng về tìm kiếm lợi nhuận. Nếu
Ngân hàng có một nguồn tièn gửi dồi dào, ổn định cho phép Ngân hàng có
thể gia tăng các khoản tín dụng trung và dài hạn với mức lãi suất tốt hơn.
Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng với đối thủ của mình.
e) Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ của Ngân hàng
Vị trí của ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng ở vị thế
thuận lợi, thiết bị hiện đại sẽ giúp phục vụ khách hàng tiện lợi và nhanh
chóng. Trình độ công nghệ của ngân hàng càng hiện đại sẽ giúp cho việc
thực hiện nghiệp vụ của nhân viên Ngân hàng càng hiệu quả và việc tiếp cận
các dịch vụ Ngân hàng của khách hàng càng tiện lợi.
f) Hoạt động marketing của Ngân hàng
Sinh viên: Nguyễn Phúc Ngọc – NH47B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét