Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

tổng quát nông nghiệp

Ngành Nông nghiệp Việt Nam và giải pháp phát triển thị trường tài chính nông thôn (30/12/2010)
Trong những năm qua với sự nỗ lực cao của Chính phủ và các bộ, ngành, kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở
nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, nhất là giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu tăng trưởng
nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia,…Tuy nhiên mặc dù đến
nay đã là năm cuối thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-
2010, nhưng phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn vẫn chậm, nhất là nông nghiệp tăng trưởng kém
bền vững, năng lực cạnh tranh yếu, chất lượng nông sản thấp, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn
chậm phát triển, thể chế nông thôn chậm đổi mới…Thực tế đó đòi hỏi cần phải có các giải pháp cụ thể để
thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Để thảo luận và xem xét
về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ công thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Ban chỉ đạo miền tây Nam Bộ, Thành ủy-Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ và Báo Sài Gòn
Giải Phóng tổ chức hội thảo “Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn” tại Thành phố Cần Thơ vào ngày 10/12/2010. Hội thảo đã có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu,
các nhà khoa học trong và ngoài ngành với nhiều tham luận khác nhau về vấn đề nông nghiệp nông thôn
Việt Nam hiện nay. Trong bài viết này chúng tôi xin tổng hợp các ý kiến đó nhằm cung cấp cho bạn đọc cái
nhìn tổng thể về thực trạng ngành nông nghiệp hiện nay, những giải pháp phát triển nông nghiệp và đặc biệt
là các giải pháp phát triển thị trường tài chính nông thôn.
I. Những nét chính của ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực nông thôn việt nam đã có sự
thay đổi rõ nét. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịch vụ phát
triển mạnh, hình thành và phát triển các mô hình kinh tế mới (khu công nghiệp,
trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả
thu hút nhiều lao động nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế. Kết cấu
kinh tế - xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường trường trạm,
cơ sở y tế, nước sạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh. Công tác xóa đói
giảm nghèo đạt thành tựu đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm. Mặc dù việc xây dựng và
thực hiện các chương trình phát triển đối với một số ngành nông nghiệp mới được
tiến hành trong thời gian chưa lâu nhưng kết quả đã cho thấy tốc độ phát triển
nhanh, đạt hiệu quả cao và cùng lúc đạt được nhiều mục tiêu như cải thiện đời sống
nông thôn, tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc v.v…
Ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển khá với nhiều thành điểm đáng chú ý
như:
- Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4,8% liên tục trong 10 năm. Nhiều lĩnh
vực sản xuất được mở rộng về diện tích cũng như tăng trưởng về sản lượng như
gạo, cà phê, chế biến thủy hải sản, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn phục vụ cả
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ví dụ như ngành lúa gạo, từ một nước nhập
khẩu gạo Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Sản
lượng gạo tăng liên tục từ mức 16 triệu tấn/năm (1986) lên mức 19,2 triệu tấn/năm
(1990) và 38,9 triệu tấn/năm (2009), tăng gấp 2,4 lần sau hơn 20 năm đổi mới.
Tính riêng trong các năm 2008 và 2009, sản lượng và giá trị các loại cây trồng, đặc
biệt là những cây tạo nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu như: cà phê tăng 40,4%,
cao su tăng 37%, chè tăng 33,3% điều tăng 28,3% so với năm 2005. Tỷ trọng của
ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP luôn chiếm trên 30% trong giai
đoạn 1986 – 1990 và giảm dần trong các giai đoạn tiếp sau theo xu hướng tích cực,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Nông nghiệp đã góp phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất
khẩu tăng bình quân trên 10% năm. Nếu như năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa nông lâm thủy sản của khu vực nông nghiệp chỉ đạt 2,5 tỷ USD thì đến cuối
năm 2009, ước đạt 13,2 tỷ USD, cao gấp 5 lần so với năm 1995. Trong 24 mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước thì nông lâm thủy sản đã đóng góp tới 11 mặt
hàng, chiếm gần ½ số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có những mặt
hàng được xem là hàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su, gỗ, với kim ngạch trên 1
tỷ USD. Cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhiều mặt hàng nông sản gia
tăng thị phần và chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới, như hạt điều, hạt tiêu
chiếm vị trí thứ nhất, lúa gạo, cà phê đứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, chè đứng
thứ năm và thủy sản đứng thứ bảy trong nhóm các nước sản xuất mặt hàng này.
- Khu vực nông nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao
động, tiếp tục là ngành chính tạo ra thu nhập cho người nghèo. Tính đến cuối năm
2009, khu vực nông nghiệp, nông thôn có 15,57 triệu hộ gia đình (chiếm 69,37%
tổng số hộ gia đình của cả nước) và dân số là 60,41 triệu người (chiếm 70,37%
tổng số dân cả nước), có trên 24 triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp, chiếm tỷ trọng gần 60% tổng số lao động đang làm việc trong các khu vực
kinh tế của cả nước.
- Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành. Diện
tích gieo trồng các loại cây trồng mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho xuất khẩu
hoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như diện tích
các loại cây rau, quả, cây công nghiệp ngắn ngày có hướng tăng nhẹ khoảng 2-
4%/năm. Diện tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha riêng trong năm 2009 do
giá xuất khẩu một số nông sản này tăng. Những dịch chuyển này đã tạo ra sự hình
thành các vùng chuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây rau, quả xuất
khẩu như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài, thanh long,… cùng với sự hình thành các
mô hình sản xuât hàng hóa nông sản lớn. Bên cạnh đó thì những cây trồng có định
hướng phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu dùng nội
địa thể hiện sự khó khăn, không có năng lực phát triển như cây mía đường, bông,
cây thức ăn gia súc,…
- Một nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổ chức
sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiểu điền, cà phê nhân dân, tổ hợp
tác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ. Tính đến năm 2009,
cả nước đã có 135.437 trang trại, trong đó có 39.769 trang trại trồng cây hàng năm,
23.880 trang trại trông cây lâu năm, 20.809 trang trại chăn nuôi và 35.489 trang
trại nuôi trồng thủy sản, tập trung nhiều nhất ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu
Long. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã dịch vụ trong nông nghiệp cũng là một nét
mới đáng ghi nhận trong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay.
Trong điều kiện toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, khủng hoảng lương thực và năng
lượng đã trở thành các vấn đề nghiêm trọng như hiện nay, khu vực nông nghiệp
nông thôn nhất là tại các quốc gia có số dân sống dựa nhiều vào nông nghiệp như
Việt Nam tiếp tục được xác định là có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống
kinh tế xã hội. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn, Đảng ta vẫn xác định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải
luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh
và bền vững có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững
chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp
sạch…; Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối
quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn
định chính trị xã hội” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ngày
25/4/2006).
Những hạn chế của nông nghiệp Việt Nam hiện nay:
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cần phải thấy rằng ngành nông
nghiệp Việt Nam vẫn chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch từ một
nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp hàng hóa. Vì vậy, vẫn
tồn tại nhiều yếu tố bất cập có thể kể đến như:
- Cơ cấu nông nghiệp chậm chuyển dịch, còn tồn tại nhiều yếu tố mất cân
đối. Năm 1990, cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta (tính theo giá trị sản xuất theo
giá thực tế) bao gồm trồng trọt chiếm 79,3%, tiếp đó là chăn nuôi 17,9% và dịch vụ
2,8% thì đến năm 2009, ước tính sơ bộ, giá trị sản xuất của ngành trồng trọt vẫn
chiếm tới 71,4%, chăn nuôi có tăng lên 26,9% nhưng dịch vụ giảm xuống còn
1,7% (theo số liệu từ tổng cục thống kê). Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của
ngành nông nghiệp thuần là các nông sản do phân ngành trồng trọt làm ra như gạo,
cà phê, cao su. Sản phẩm chăn nuôi hầu như chưa xuất khẩu hoặc rất ít. Cơ cấu
nông, lâm nghiệp thủy sản năm 2000 lần lượt là 79%, 16% và 5% thì đến năm
2009, nông nghiệp vẫn chiếm 74%, thủy sản tăng lên 23% và lâm nghiệp giảm
xuống còn 3%. Sự mất cân đối còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nguyên liệu
sản xuất và nhà máy chế biến. Như đối với ngành hạt điều, từ chỗ chỉ có vài chục
ngàn ha với sản lượng đáp ứng tiêu dùng nội địa, đến nay cả nước đã có trên
400.000 ha điều, tuy nhiên công suất của các nhà máy chế biến đã vượt quá xa khả
năng cung ứng nguyên liệu điều thô trong nước. Tình trạng tương tự cũng xảy ra
trong lĩnh vực thủy sản. Trong 3 năm trở lại đây, năng lực chế biến của các nhà
máy chế biến thủy sản tăng tới 20% trong khi sản lượng khai thác và nuôi trồng chỉ
tăng 7,6%.
- Quy mô sản xuất nhỏ, hoạt động sản xuất còn manh mún. Ví dụ như đối với
ngành sản xuất cà phê, cho tới nay, cà phê thuộc các gia đình nông dân quản lý đã
chiếm trên 90% tổng diện tích cà phê cả nước, trong đó có tới 53% chủ vườn có
diện tích cà phê dưới 1 ha và 85% chủ vườn có diện tích cà phê dưới 2ha. Diện tích
cà phê của các nông trường nhà nước đã ngày càng thu hẹp do chính sách khoán
đến hộ công nhân và bán vườn cây của các nông trường. Đối với cây cao su, đến
năm 2009, diện tích cao su tiểu điền chiếm khoảng 50,2% tổng diện tích cao su cả
nước, tương đương 338.480ha. Do quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ít, điều kiện
kinh tế nhiều hộ nông dân còn nghèo nên công nghệ sau thu hoạch như phơi sấy,
chế biến và bảo quản còn nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp.
- Cơ cấu giống cây trồng và con vật nuôi còn nhiều điểm chưa hợp lý dẫn tới cơ
cấu sản phẩm nông nghiệp chưa hợp lý theo cả cung và cầu. Ví dụ như diện tích
cà phê vối hiện nay chiếm tới 92,9% chủ yếu trồng bằng hạt, diện tích cà phê chè
chỉ đạt trên 31 nghìn ha, chiếm khoảng 7% trong khi nhu cầu tiêu dùng thì chủ yếu
tập trung vào cà phê chè. Hiện tượng này diễn ra tương tự với nhiều loại cây trồng
và vật nuôi khác. Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi còn thiếu đa dạng, tồn tại nhiều
giống cây cho hiệu quả và năng suất còn thấp, nhiều giống vật nuôi có chất lượng
kém hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nước.
- Năng suất lao động chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh
tranh yếu do đó chưa hình thành được các chuỗi giá trị nông sản mạnh và bền
vững. Mặc dù năng suất lao động của ngành nông nghiệp có tăng trong nhiều năm
trở lại đây, tuy nhiên, theo báo cáo khoa học ngành nông nghiệp Việt Nam 2011-
2015 (Bộ NN và PTNT) thì năng suất lao động bình quân của ngành nông nghiệp ở
nước ta chỉ bằng 0,16% đến 0,22% so với ngành công nghiệp từ năm 2006 đến
nay. Chất lượng sản xuất thấp cũng là một trong những vấn đề đặc biệt nghiêm
trọng. Do chất lượng sản xuất thấp dẫn đến giá trị xuất khẩu không cao, làm giảm
thu nhập cũng như hiệu quả lao động của người nông dân, làm giảm hiệu quả khai
thác đất đai và các tài nguyên khác. Theo thông báo mới nhất của ICO (tổ chức cà
phê thế giới) tỷ lệ cà phê dưới chuẩn CQP của Việt Nam lên đến 75% trong khi
Indonesia chỉ ở mức 9%. Đây cũng là lý do khiến tỷ lệ cà phê của Việt Nam bị loại
ở sàn giao dịch Liffe năm 2008 lên tới 60%. Mặc dù là nước xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa xuất khẩu gạo có thương hiệu mạnh,
giá gạo của Việt Nam vẫn luôn duy trì ở mức thấp hơn so với giá gạo tương đương
của Thái Lan. Người nông dân phần lớn vẫn chú trọng nâng cao năng suất hơn là
chất lượng sản phẩm. Khi giá lên cao, để đạt được năng suất tối đa, người trồng cà
phê sẵn sàng sử dụng phân hóa học, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật với mức cao
hơn mức khuyến cáo, tiết giảm các loại cây che bóng mát, hái cà phê quả xanh
hoặc hái lẫn quả xanh quả chín để tăng cao sản lượng. Cà phê hái về ủ đống chờ đủ
lượng mới đổ ra phơi trên sân đất gây nên tình trạng cà phê bị ủ, phơi lâu khô,
nhiễm nấm mốc trong khi phơi,… Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với các loại
cây trồng khác.
- Thị trường thiếu ổn định, còn nhiều yếu tố bất ổn trong quá trình sản xuất, tiêu
thụ đặc biệt là vấn đề giá cả. Bên cạnh những yếu tố rủi ro về thời tiết, mùa vụ,
trong một nền nông nghiệp hàng hóa thì người nông dân lại phải đối mặt nhiều hơn
với các rủi ro về thị trường giá cả, cung cầu cả đầu vào và đầu ra. Do các yếu tố về
cung cầu không ổn định, dẫn đến sự biến động về giá trở nên phức tạp và khó đoán
trước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người nông dân. Đặc biệt là đối với
trường hợp của Việt Nam, khi các mặt hàng nông sản của chúng ta chưa làm chủ
được thị trường thì sự thụ động về mặt cung cầu càng tăng lên, đồng nghĩa với việc
rủi ro về giá cả càng trở nên nghiêm trọng đối với người nông dân. Sự khó khăn về
vốn, sự yếu kém về kỹ thuật trong các khâu phơi sấy, bảo quản dẫn đến người
nông dân không làm chủ được thời điểm tiêu thụ, buộc phải bán ngay cả vào thời
điểm giá thấp. Sự bất ổn về giá còn có nguyên nhân xuất phát từ chính người nông
dân. Khi giá một loại nông sản tăng lên trong một năm thì ngay mùa vụ sau, người
nông dân lại đổ xô đi trồng hoặc chăn nuôi loại nông sản đó, dẫn đến nguồn cung
tăng đột biến, giá thành lập tức hạ xuống.
Một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế còn tồn tại trong lĩnh vực nông
nghiệp hiện nay:
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được thực hiện tốt, thiếu những
chiến lược và giải pháp nhằm quy hoạch ổn định, lâu dài đối với từng cây,
con, sản xuất phần nào còn mang tính phong trào tự phát gây ảnh hưởng tiêu
cực đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn nước. Ví dụ như đối với cây
cà phê, mặc dù Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 150/QĐ-TTg về việc phê
duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản cả nước
đến năm 2015 và tầm nhìn 2020, quy mô cà phê cả nước duy trì từ 450.000 đến
500.000 ha, nhưng thực tế hiện nay cả nước có khoảng trên 525.000 ha, nhiều diện
tích trồng mới không nằm trong vùng quy hoạch, chủ yếu là trồng trên những nơi
không thích hợp với đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây cà phê, do đó không những
không đủ bù đắp sản lượng thiếu hụt của những diện tích ca phê già cỗi mà còn đe
dọa trực tiếp đến tính bền vững của những diện tích cà phê còn lại do môi trường
bị hủy hoại. Theo số liệu của ngành nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk, diện tích cà phê ở
đây có lúc lên tới 270.000ha, trong đó có đến hơn một nửa phải tưới bằng nguồn
nước ngầm. Tình trạng khai thác nước ngầm quá mức để phục vụ tưới nước cho
cây cà phê, không tuân thủ theo đúng quy trình đã dẫn đến hiện tượng chẩy tầng,
tụt mạch nước ngầm. Theo điều tra, khảo sát của Đoàn quy hoạch và điều tra tài
nguyên nước 704 thì lượng nước ngầm hiện đã sụt xuống từ 3 đến 5m, những địa
bàn có nguồn nước ngầm giảm mạnh đều rơi vào các địa phương đã “cơ bản phá
xong rừng”. Ngay cả đối với ngành chế biến nông sản, tuy phát triển nhanh nhưng
chủ yếu là tự phát thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, phân tán, thiếu liên kết,
chưa tiếp cận đầy đủ nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất chế biến.
Việc thiếu quy hoạch hợp lý trong sản xuất cũng dẫn đến hoạt động sản xuất mất
cân đối, chạy theo thị trường nhiều hơn là đón trước thị trường, do đó, rủi ro về giá
cả, tiêu thụ đối với người nông dân lại càng tăng lên.
Cũng do thiếu công tác quy hoạch nên quy mô sản xuất manh mún, khó hình thành
các vùng sản xuất tập trung, do đó, việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật
hiện đại cũng trở nên khó khăn hơn.
Điều kiện khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp vẫn ở mức
thấp. Các biện pháp canh tác, thu hoạch còn nhiều bất cập. Điều kiện phơi sấy, sơ
chế, chế biến và bảo quản còn nhiều hạn chế. Trong quá trình sản xuất vẫn còn
nhiều khâu người nông dân thực hiện một cách thủ công dẫn đến năng suất lao
động không cao. Việc nghiên cứu đưa vào sản xuất các giống cây, con mới cho
năng suất chất lượng cao vẫn còn hạn chế.
Chưa hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng nông sản và vật tư nông nghiệp.
Tình trạng tồn đọng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh trong nông
sản vẫn đang tồn tại phổ biến mà chưa có các biện pháp xử lý. Thiếu các biện pháp
kiểm soát chất lượng dẫn đến chất lượng nông sản bị thả nổi, tỷ lệ sản phẩm có
chất lượng thấp còn rất cao, không được phân loại dẫn tới giá thành sản phẩm thấp
và khó chiếm lĩnh được thị trường. Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay,
khi các hàng rào thuế quan hầu như không còn được áp dụng theo các quy định về
bảo hộ thương mại của WTO, các hàng rào về tiêu chuẩn chất lượng lần lượt được
các nước dựng lên như một biện pháp bảo vệ hữu hiệu sản xuất nông nghiệp trong
nước. Việc chưa hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng nông sản hiệu quả vừa
gây khó quản lý và nâng cao chất lượng nông sản trong nước vừa gây thiệt thòi cho
ngành nông nghiệp trong nước do không được áp dụng biện pháp bảo hộ hợp lý.
Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển sản xuất nông sản quy
mô lớn, nhất là ở các vùng miền núi, đặc biệt là giao thông, thủy lợi, thông tin
liên lạc… Vẫn còn 5% số xã chưa có đường ô tô, 28% xã chưa có trạm bưa điện và
17% trụ sở xã chưa có điện thoại, 11% xã chưa có điện và 90% xã chưa có trường
phổ thông, 40% dân sống ở nông thôn chưa có nước sạch sinh hoạt. Ngay cả đối
với hệ thống thủy lợi được đầu tư lớn, nhưng hiệu quả sử dụng thấp và quản lý
yếu. Cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn chậm được xây dựng và nâng cấp gây
khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nông thôn. Có tới
21% doanh nghiệp nông thôn cho rằng chất lượng giao thông nông thôn còn rất
kém và là vấn đề nghiêm trọng cản trở phát triển.
Khó khăn về vốn cho phát triển sản xuất. Trong khi đa số hộ nghèo tập trung ở
nông thôn và hầu hết người dân sống ở nông thôn có thu nhập thấp thì vốn cho
phát triển sản xuất là một vấn đề đặc biệt quan trọng. Do không có vốn, người
nông dân không thể mở rộng sản xuất cũng như không thể đầu tư áp dụng các
phương thức sản xuất tiên tiến, từ đó dẫn tới không thể nâng cao năng suất và chất
lượng sản xuất. Việc thiếu vốn cũng dẫn tới người nông dân bị thụ động trong quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bị thương lái ép giá. Tính tới cuối năm 2008,
tổng dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn đạt 248.000 tỷ đồng, tăng 15,1% so
với năm 2007 nhưng chỉ chiếm 20% so với tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Người nông dân không tiếp cận được với nguồn vốn từ khu vực tài chính chính
thức do thủ tục vay ngân hàng còn rườm rà trong khi giá trị khoản vay thấp, dẫn tới
chi phí vay cao. Hơn nữa, các yêu cầu cho vay từ phía các ngân hàng là khá chặt
chẽ, thông thường đòi hỏi có tài sản thế chấp (mà chủ yếu là bất động sản) nên
người nông dân không thể vay được do không có tài sản thế chấp. Do đó, người
nông dân thường phải chấp nhận vay từ khu vực phi chính thức với lãi suất cao
hơn là tiếp cận các ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng của hệ thống ngân hàng
cũng chưa có một hệ thống đánh giá rủi ro hợp lý để có thể tiến hành các hoạt động
cho vay vi mô, bản thân các ngân hàng cũng không muốn mở rộng cho người nông
dân vay do hoạt động sản xuất của họ mang nhiều yếu tố rủi ro dẫn tới nguy cơ mất
khả năng thanh toán.
Trình độ văn hóa và mặt bằng dân trí ở khu vực nông thôn còn thấp. Đây là một
rào cả đáng lo ngại. Thực tế cho thấy tình trạng đói nghèo đi liền với trình độ dân
trí thấp do đó một phần nguyên nhân hạn chế sản xuất nông nghiệp phát triển xuất
phát từ chính người nông dân, do họ không chịu sử dụng các giống cây trồng vật
nuôi mới, bảo thủ và chậm tiếp cận đối với các phương thức canh tác, chăn nuôi,
chậm tiếp nhận các quy luật cung cầu thị trường dẫn tới sản xuất hàng hóa chất
lượng thấp, không phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Mối liên hệ giữa sản xuất và tiêu thụ còn yếu. Gắn liền sản xuất với tiêu thụ chính
là yêu cầu cơ bản của một nền sản xuất hàng hóa. Người nông dân hiện nay hầu hết
vẫn thụ động trong khâu tiêu thụ sản phẩm mà phụ thuộc chủ yếu vào thương lái
dẫn tới thường xuyên bị ép giá. Cũng do không có sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu
thụ, dẫn tới khâu sản xuất không nhận được các tín hiệu về nhu cầu của thị trường
mà thông thường do quá trình tiêu thụ mang lại nên sản xuất không đúng cái thị
trường cần, quá trình tiêu thụ sản phẩm càng trở nên khó khăn hơn. Vấn đề thúc
đẩy mối liên kết “4 nhà” (Nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp và Nhà nước) đã
được đặt ra nhưng chưa đạt được hiệu quả.
Bên cạnh những nguyên nhân trên, còn tồn tại nhiều yếu tố vĩ mô gây khó khăn
cho sản xuất nông nghiệp như: sự biến động của kinh tế thế giới dẫn tới cầu tiêu
thụ giảm sút mạnh mẽ, diện tích đất đai cho sản xuất nông nghiệp giảm do quá
trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa, thiên tai và biến đổi khí hậu toàn cầu,…
Có thể thấy các khó khăn đang tồn tại đối với sản xuất nông nghiệp có mối quan hệ
đan xen, tác động lẫn nhau. Do khả năng tiếp cận vốn khó khăn, không có đủ vốn
cho sản xuất, người nông dân không thể mở rộng sản xuất cũng như áp dụng khoa
học kỹ thuật mới trong sản xuất, dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao. Điều này
lại đẩy người nông dân tới chỗ phải chịu thiệt thòi trong tiêu thụ sản phẩm, không
thu lại được tiền đầu tư cũng như không có lợi nhuận sản xuất, từ đó càng trở nên
khó khăn hơn về vốn. Cũng do không có vốn, người nông dân phải bán sản phẩm
đi ngay khi thu hoạch. Do nhiều người bán cùng một lúc dẫn tới nguồn cung tăng
đột biến, giá nông sản giảm và người nông dân dễ bị thương lái ép giá. Những lý
do đó tạo thành một vòng quay luẩn quẩn khiến cho việc giải quyết những khó
khăn đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay trở nên khó hơn và không chỉ nằm
trong tay người nông dân.
Một số giải pháp phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay:
1. Chính phủ cần sớm xây dựng và phê duyệt quy hoạch phát triển tổng thể
đối với các phân ngành nông nghiệp, đặc biệt là đối với các ngành có ưu thế, tạo ra
nhiều giá trị xuất khẩu như sản xuất gạo, cà phê, cao su, chè, nuôi trồng và chế
biến thủy sản, trên cơ sở đó từng địa phương phải chỉ đạo kiên quyết, không để tồn
tại các hiện tượng phát triển ngoài quy hoạch. Đồng thời Chính phủ cũng cần có
các biện pháp hỗ trợ người nông dân thông qua các ưu đãi về sử dụng đất, tín dụng
đầu tư,…
2. Xây dựng cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn. Đặc biệt cần chú trọng đầu
tư vào hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch. Bên cạnh việc sử dụng vốn
nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn, còn có thể kêu
gọi sự tài trợ từ các tổ chức, dự án quốc tế, đặc biệt là cần huy động sức mạnh từ
trong chính cộng đồng người dân sống ở nông thôn, kết hợp nhà nước và nhân dân
cùng làm để xây dựng và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng nông thôn.
3. Tăng cường công tác trồng rừng và bảo vệ rừng. Việc duy trì diện tích rừng
có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo tồn các điều kiện thiên nhiên khí hậu và đất đai
cho sản xuất nông nghiệp.
4. Đầu tư cho nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật, tăng cường các giải
pháp kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp. Tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên
cứu phát triển giống cây trồng vật nuôi, phát triển các biện pháp thâm canh, nuôi
trồng mới cho năng suất, chất lượng cao hơn. Đặc biệt hoạt động nghiên cứu phải
gắn liền với sản xuất, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết khoa học và hoạt động
sản xuất thực tế.
5. Tăng cường công tác khuyến nông để có thể đưa giống cây trồng và vật nuôi
mới có năng suất chất lượng cao hơn đi vào sản xuất. Phổ biến các phương pháp
canh tác, chăn nuôi, các biện pháp thu hoạch bảo quản hiện đại, hiệu quả đến người
nông dân để nâng cao chất lượng sản phẩm. Phát triển đa dạng sản xuất nông
nghiệp theo hướng phát triển kinh tế sinh thái VACR để cải thiện đời sống nông
dân.
6. Nâng cao dân trí cho vùng nông thôn. Phát triển thêm hệ thống trường học,
nâng cao chất lượng trường lớp tại các vùng nông thôn. Đẩy mạnh công tác khuyến
nông, hướng dẫn và đào tạo ngắn hạn cho người nông dân. Tăng cường công tác
đào tạo cho đội ngũ khuyến nông và nâng cao chất lượng hệ thống cán bộ quản lý
tại các vùng nông thôn.
7. Đẩy mạnh tạo lập thương hiệu cho hàng hóa nông sản Việt Nam. Đối với
các ngành sản phẩm tạo ra giá trị xuất khẩu cao, đã chiếm lĩnh được vị thế trên thị
trường thế giới, cần tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm để duy trì và nâng cao
thương hiệu hàng hóa. Nhà nước và doanh nghiệp cùng phối hợp trong việc quảng
bá hình ảnh nông sản Việt Nam đến người tiêu dùng thế giới, có thể lồng ghép
trong các hoạt động quảng bá du lịch. Tăng cường tham gia các sàn giao dịch nông
sản quốc tế. Người nông dân cũng phải tham gia quá trình tạo lập thương hiệu
bằng cách tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình đảm bảo chất lượng sản phẩm. Chỉ
những sản phẩm có chất lượng thực sự tốt mới có hình thành thương hiệu và định
vị lâu dài trên thị trường quốc tế. Việc tạo lập thương hiệu cho hàng hóa nông sản
cần có sự tham gia phối hợp của cả người nông dân, doanh nghiệp, các hiệp hội
ngành nghề và các cơ quan quản lý Nhà nước.
8. Hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, thúc đẩy hơn nữa mối liên
kết “4 nhà”, đặc biệt là mối liên kết giữa nhà nông và doanh nghiệp. Cần xây dựng
các mô hình tổ chức quản lý từ khâu trồng trọt, chăn nuôi đến khâu thu hoạch, bảo
quản, chế biến và tiêu thụ tạo thành một chu trình khép kín hợp lý, giúp người
nông dân có thể liên minh với doanh nghiệp, sử dụng nhiều biện pháp như ký gửi
để có thể tiêu thụ theo kế hoạch, lưu trữ sản phẩm để bán khi có giá cao.
9. Xây dựng và phát triển các sàn giao dịch hàng hóa nông sản tập trung là đầu
mối để người nông dân tiếp cận thị trường cũng như các doanh nghiệp tiếp cận với
nguồn sản xuất, giảm thiểu các khâu trung gian. Trên cơ sở phát triển của các sàn
giao dịch tập trung còn có thể hình thành thị trường các tài sản phái sinh như hợp
đồng giao sau, tăng cường cơ hội lựa chọn cũng như tính ổn định trong khâu tiêu
thụ hàng hóa cho người nông dân.
10. Tạo điều kiện tiếp cho người nông dân tiếp cận vốn thông qua phát triển thị
trường tài chính nông thôn. Xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính nông thôn, phát triển
mạng lưới các tổ chức tài chính cung cấp sản phẩm tín dụng nông nghiệp nông
thôn, xây dựng và phổ biến các tiêu chuẩn đánh giá, thẩm định trong quá trình cấp
tín dụng nông nghiệp, nông thôn từ đó giảm thiểu các yêu cầu, thủ tục cho người
nông dân. Phát triển các sản phẩm tài chính như là chứng chỉ lưu kho, hợp đồng
giao sau để cho phép người nông dân có tài sản thế chấp khi tiếp cận nguồn chính
thức. Tăng cường vốn cho vay nông nghiệp bằng cách huy động nguồn tiền tiết
kiệm từ chính khu vực nông thôn thông qua đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm.
11. Nâng cao vai trò của các hiệp hội và của hội nông dân Việt Nam. Các hiệp
hội ngành nghề (hiệp hội cao su, hiệp hội cà phê,…) đóng vai trò quan trọng làm
cầu nối giữa người nông dân với các cơ quan chức năng, phản ánh nhu cầu của
người nông dân đến cơ quan quản lý, đồng thời định hướng người nông dân phát
triển theo định hướng chung của Chính phủ. Hội nông dân cần tăng cường bảo vệ
lợi ích cho người nông dân, và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới.
II. Phát triển thị trường tài chính nông thôn, tạo nguồn vốn cho phát triển
nông nghiệp nông thôn
Từ những nghiên cứu trên cho thấy, những khó khăn đối với phát triển khu vực
nông nghiệp hiện nay có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó, nguồn vốn cho
phát triển nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề quan trọng cần có sự quan tâm
giải quyết nhanh chóng. Việc tháo gỡ nút thắt về vốn còn có thể là đầu mối để giải
quyết nhiều vấn đề khác như: người nông dân chủ động được vốn trong sản xuất
kinh doanh nên họ có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tốt hơn từ đó
nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản, đồng thời họ có thể chủ động thời điểm
tiêu thụ hàng hóa, tránh tình trạng “bán lúa non” để trang trải nợ, từ đó giảm thiểu
các rủi ro về giá,v.v…
Cơ cấu luồng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay bao gồm:
vốn từ ngân sách nhà nước, vốn từ các định chế tài chính hoạt động trên thị trường
tài chính nông thôn, vốn đầu tư nước ngoài, vốn tự có của các doanh nghiệp và
người nông dân. Vốn đầu tư của Nhà nước cho phát triển nông nghiệp hiện nay
mới chỉ đáp ứng được khoảng 17% nhu cầu của khu vực nông nghiệp và chỉ chiếm
một tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chưa tương xứng với tỉ trọng
đóng góp vào GDP của ngành này. Vốn tự có của các doanh nghiệp và người nông
dân thì quá nhỏ so với tổng nhu cầu vốn. Do đó, nguồn vốn từ các định chế tài
chính đóng vai trò chủ lực thúc đẩy khu vực nông nghiệp nông thôn phát triển
trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, dòng vốn này hiện có suất đầu tư thấp, chưa
phù hợp với nhu cầu vốn của một đơn vị diện tích cây, con dẫn tới việc đầu tư còn
manh mún phân tán. Cơ chế tín dụng, thanh toán, sản phẩm dịch vụ cung ứng cho
khu vực nông nghiệp nông thôn còn thiếu sự linh hoạt, năng động, chưa đa dạng,
phong phú, cơ chế bảo đảm tiền vay chưa thực sự thuận lợi đối với người vay.
Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng cho khu vực này còn rất nhỏ so với nhu cầu
và tiềm năng phát triển.
Xét trên bình diện toàn xã hội thì lượng vốn đầu tư đổ vào khu vực nông nghiệp và
kinh tế nông thôn hiện còn rất hạn chế, và một điểm đáng lưu ý là tỷ trọng vốn đầu
tư cho khu vực này đang có xu hướng giảm dần từ năm 2007 cho tới nay, trong khi
vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăng. Luồng vốn đầu tư dành cho khu vực
nông nghiệp nông thôn là chưa tương xứng nhu cầu và khả năng tạo ra giá trị gia
tăng cho nền kinh tế của khu vực này. Chính vì vậy, để phá vỡ các rào cản, khơi
thông các dòng vốn cho kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thì cần thiết
phải có những định hướng tổng thể trong việc phát triển thị trường tài chính nông
thôn hiệu quả và lành mạnh.
Thị trường tài chính nông thôn Việt Nam hiện nay vẫn ở giai đoạn phát triển sơ
khai trên cơ sở gắn kết các đặc điểm kinh tế xã hội của khu vực nông nghiệp nông
thôn và thị trường tài chính Việt Nam với các biểu hiện như: chủ thể tham gia thị
trường còn hạn chế, các hoạt động dịch vụ còn đơn điệu, chưa có sản phẩm thiết kế
chuyên biệt cho khu vực nông thôn, năng lực tài chính và mức độ bền vững về hoạt
động còn nhiều bất cập, mức độ ảnh hưởng và tính chuyên nghiệp của các tổ chức
tài chính vi mô còn hạn chế. Việc phát triển thị trường này hiện nay cũng gặp phải
không ít rào cản như: Kinh tế khu vực nông thôn kém phát triển, trình độ dân trí
thấp,… Củng cố và phát triển hệ thống tài chính khu vực nông thôn để nâng cao
tính lành mạnh và hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tốt nhất để đạt được mục tiêu hoạt
động an toàn và phát triển bền vững cho các tổ chức tín dụng trên thị trường tài
chính nông thôn cũng là những thách thức lớn.
Tuy nhiên, những khó khăn và rào cản đó không thể cản trở xu hướng phát triển
ngày càng sôi động của thị trường tài chính nông nghiệp. Trên thực tế, trong thời
gian qua Chính phủ và NHNN đã có rất nhiều các giải pháp để thúc đẩy thị trường
tài chính nông thôn phát triển. Bên cạnh các giải pháp đang thực hiện, nên chăng
thực hiện thêm một số giải pháp để khắc phục các rào cản trên, cụ thể là:
1. Chính phủ hỗ trợ mua bảo hiểm rủi ro nông sản cho nông dân: Chính phủ
hỗ trợ cho ngươi nông dân mua bảo hiểm rủi ro giá cả, mất mùa, thiên tai cho các
sản phẩm nông nghiệp, thay vì hỗ trợ người nông dân vay với lãi suất thấp.
2. Một thị trường tài chính phát triển, nguồn vốn chỉ có thể phân bổ hợp lý
khi chi phí vốn gắn với cung cầu vốn trên thị trường. Do vậy, cần có lộ trình giảm
dần các khoản lãi suất ưu đãi, xây dựng một chính sách lãi suất hợp lý trên địa bàn
nông thôn.
3. Củng cố, phát triển thị trường tài chính cần dựa trên cơ sở tích tụ và tập
trung vốn của các chủ thể kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn một cách
tự nguyện. Do vậy, cần phát triển đa dạng các định chế tài chính, nhất là các định
chế tài chính vi mô. Khuyến khích các NHTM ở rộng các hoạt động tài chính vi
mô để bao phủ toàn bộ khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; đưa ra các sản phẩm
huy động vốn phù hợp với tâm lý và đặc điểm kinh tế nông nghiệp nông thôn.
4. Phát triển và từng bước hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin,
đảm bảo cho các hoạt động của thị trường tài chính được vận hành thông suốt, đáp
ứng được các yêu cầu về thông tin để quản lý và điều hành có hiệu quả thị trường
tài chính.
5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý và giám sát thị trường, đảm bảo
cho thị trường hoạt động lành mạnh, an toàn có hiệu quả, có chế tài đủ mạnh để
duy trì trật tự hoạt động của thị trường trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ được các
chủ thể tham gia thị trường, tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế tiếp
cận như nhau nguồn vốn tín dụng.
6. Các định chế tài chính đang hiện hữu tại thị trường nông thôn hiện nay
cần có những đổi mới mạnh mẽ, trong quản trị điều hành, không ngừng cải thiện
năng lực tài chính, năng lực hoạt động, để tạo khả năng tiếp cận nguồn vốn của
các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình trên địa
bàn nông thôn.
7. Khuyến khích các TCTD mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở phối hợp chặt
chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn để có
những tư vấn hướng dẫn cho khách hàng trong việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
đảm bảo được hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như hiệu quả

Xem chi tiết: tổng quát nông nghiệp


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét