Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
luôn tiến tới, cố gắng để sự kiểm soát đợc tiêu chuẩn hoá và nghiêm ngặt, coi
trọng việc duy trì thái độ tuân thủ của các phòng ban, nhằm đảm bảo mọi việc
đợc thực hiện đúng pháp luật.
- Giáo dục công chúng là việc làm đợc các công ty lớn chú trọng. Mỗi
khi có sản phẩm mới, hay một văn bản pháp luật mới ban hành, các công ty
đều tổ chức các buổi hội thảo hoặc thuyết trình để tuyên truyền, giải thích cho
công chúng.
Các công ty tầm khu vực
Về nhiều phơng diện thì công ty này cũng giống nh các công ty tầm quốc
gia. Chỗ khác nhau chủ yếu là công ty này nhỏ hơn và có xu hớng tập trung các
nỗ lực nghiên cứu vào những công ty nằm trong địa phận của mình.
Công ty có lợi thế nh:
- Vị trí thuận tiện: các công ty tầm khu vực thiết lập các trụ sở, chi
nhánh ở những nơi mà một công ty quốc gia có thể không với tới đợc .
- Tụ điểm bán lẻ: khác với công ty lớn tầm quốc gia, đa số công ty
tầm khu vực đều tập trung vào hoạt động bán lẻ.
- Các công ty tầm khu vực chào các dịch vụ có tính cá nhân cao hơn.
Những khiếu nại của ngời đầu t sẽ đợc giải quyết nhanh chóng hơn, do hội sở
đặt tại khu vực.
- Nghiên cứu khu vực: các hãng tầm khu vực có xu hớng tập trung vào
những cổ phiếu trong phạm vi khu vực mình, mà công ty tầm quốc gia thờng
hay bỏ qua.
Công ty cổ phiếu nhỏ
Đây là những công ty chuyên làm ăn với những cổ phiếu có giá thấp, d-
ới 5 $ một cổ phiếu. Những công ty này thờng giao dịch những cổ phiếu có rủi
ro cao hơn so với những công ty khác. Lợi thế của cổ phiếu này là nếu nó diễn
biến tốt thì lợi nhuận cho một nhà đầu t là rất lớn. Song để hoạt động thành
công ty, các công ty này cũng đã trải qua khá nhiều thất bại. Bất lợi của công
ty này là năng lực nghiên cứu cũng nh chủng loại đầu t của họ rất hạn chế, ng-
ời môi giới ít đợc đào tạo.
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
5
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
Các hãng chuyên phục vụ các định chế
Các hãng này theo truyền thống thờng phục vụ cho các định chế lớn, nh các
ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ hu trí và những công ty khác quản lý khối
lợng tài sản lớn. Các hãng này cung cấp những kết quả nghiên cứu đầu t và dịch vụ
t vấn tinh vi, cung cấp cả những dịch vụ ngân hàng đầu t, kể cả việc bảo lãnh phát
hành chứng khoán, sát nhập và thâu tóm
Trên NYSE, có 80% cổ phiếu thờng là do các nhà đầu t cá nhân nắm giữ.
Tuy nhiên các định chế vẫn thống trị giao dịch- chiếm 2/3 tổng khối lợng giao
dịch. Trong những ngày mà khối lợng giao dịch lên tới 200 triệu cổ phiếu thì trong
đó gần 133 triệu là do các định chế giao dịch. Lợi thế của những công ty này là với
khối lợng giao dịch lớn, mức giảm giá là đáng kể, hoạt động nghiên cứu mang tính
nhà nghề cao với những báo cáo rất chi tiết.
* Phân loại theo dịch vụ cung cấp
Công ty môi giới giảm giá
Hoạt động của công ty này chủ yếu là giúp khách hàng thực hiện các lệnh
mua bán chứng khoán. Công ty môi giới giảm giá thích hợp cho các nhà đầu t tự
mình đa ra các quyết định mua bán. Nhiều nhà đầu t không muốn lời khuyên hay
kết quả nghiên cứu đầu t của ngời môi giới. Những nhà đầu t này chỉ muốn thực
hiện giao dịch trên tất cả hay một phần đầu t của họ với gía tốt nhất có thể, cùng
với khoản hoa hồng chỉ phản ánh chi phí của dịch vụ đó. Gọi là công ty môi giới
giảm giá hàm nghĩa chi phí của công ty này thấp hơn nhiều so với chi phí của công
ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ.
Tuy nhiên, nếu nhà đầu t có một khoản lỗ nào đó trên tài khoản của công ty
giảm gía, sẽ không có một ngời môi giới cá nhân nào có thể tới để sửa chữa sai
lầm cho ông ta. Quan trọng hơn nếu nh ngời đầu t cần một lời khuyên về tài khoản
cụ thể, ngời môi giới giảm giá không thể giúp đợc. Nhng khi giá cổ phiếu giảm sút
bất ngờ, ngời đầu t vì không biết lý do nên sẽ lúng túng không biết nên bán ra hay
giữ lại, hoặc thậm chí mua thêm. Nếu sử dụng công ty môi giới dịch vụ đầy đủ thì
ngời đầu t không chỉ nhận đợc lời khuyên về những cổ phiếu hay trái phiếu cụ thể
mà quan trọng không kém là ngời môi giới có thể thúc đẩy khách hàng tiếp tục
đầu t trong cả thời kỳ tốt cũng nh xấu. Chính vì lẽ đó, công ty môi giới giảm gía
chỉ thích hợp cho các đối tợng:
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
6
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
- Các nhà đầu t dài hạn tiến hành nghiên cứu thị trờng: Một số ngời đầu
t thích nghiên cứu thị trờng, theo dõi các xu hớng của ngành và lựa chọn
những cổ phiếu có tiềm năng lớn. Đây là sở thích của họ, và nếu những nỗ lực
của riêng họ có kết quả một cách hợp lý, họ có thể giàu lên nếu sử dụng công
ty môi giới giảm giá. Rất nhiều trong số những ngời đầu t này vừa có ngời môi
giới dịch vụ đầy đủ vừa có ngời môi giới chiết khấu.
- Các nhà kinh doanh ngắn hạn theo trờng phái kỹ thuật. Họ thờng tự
mình vẽ đồ thị cho các cổ phiếu và tiến hành giao dịch trên cơ sở ngắn hạn. Các
nhà giao dịch năng động có thể đảo danh mục đầu t của họ mỗi tháng một lần.
Nếu sử dụng dịch vụ đầy đủ, chi phí giao dịch của họ trong 12 tháng là một số
khổng lồ (chẳng hạn với mức chi phí 2% cho một giao dịch, mỗi lần họ thay đổi
một chứng khoán, họ mất 2% cho việc bán ra và 2% cho việc mua vào, tức là
4% trong một tháng, và 48% một năm). Sử dụng dịch vụ môi giới giảm gía sẽ
tiết kiệm đợc rất nhiều chi phí giao dịch.
- Những nhà đầu t chỉ giao dịch một lần. Nếu một ngời nhận đợc món
quà hay đợc thừa kế và muốn bán nó đi, ngời đó cần sử dụng một công ty môi
giới giảm giá để giúp tiến hành giao dịch, bởi giao dịch này không đòi hỏi
những dịch vụ đặc biệt hay lời khuyên từ ngời môi giới.
Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ
Công ty này cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đa ra kết quả
nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên đến việc theo dõi tài khoản và kip thời
đa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Ngời môi giới dịch vụ đầy
đủ sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi và giúp khách hàng giải quyết các vấn đề phát
sinh. Ngoài việc đa ra lời khuyên, ngời môi giới dịch vụ đầy đủ còn chào
nhiều dịch vụ khác không có đợc ở ngời môi giới giảm giá. Những ngời đầu t
sử dụng ngời môi giới dịch vụ đầy đủ là:
- Những ngời luôn đánh giá cao sự thuận tiện của việc luôn luôn có sẵn
một cố vấn chuyên nghiệp hớng dẫn quyết định mua bán của họ. Họ thừa nhận
những hạn chế của bản thân trên thị trờng đầu t phức tạp và coi ngời môi giới
là các chuyên gia công nghiệp, ngời có thể giúp cho các khoản đầu t của họ
không ngừng lớn lên.
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
7
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
- Những ngời đánh giá cao sự quan tâm cá nhân của mỗi ngời môi giới
dịch vụ đầy đủ, muốn có một ngời môi giới luôn để mắt đến tài khoản của
mình, gọi điện khi cần thiết và quan tâm đến những vấn đề của họ.
Tóm lại, theo sự phát triển của thị trờng, các CTCK cũng dần dần đợc
chuyên môn hoá theo nghiệp vụ, theo khu vực hoạt động, theo đối tợng khách
hàng, chủng loại sản phẩm Tuỳ tính chất của thị trờng mà tính chất chuyên môn
hoá sẽ phát triển theo chiều hớng này hoặc hớng khác.
1.1.2 Mô hình của công ty chứng khoán
Ngân hàng thơng mại và thị trờng chứng khoán có mối quan hệ hữu cơ
với nhau. Hầu hết các nớc trên thế giới đã có xu hớng gắn kết hai lĩnh vực hoạt
động này, xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán dựa trên sự phát triển
của ngân hàng. Song trong điều kiện cụ thể của mình, pháp luật các nớc lại có
những quy định khác nhau cho phù hợp.
Trên thế giới, có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Mô hình thứ nhất là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong
mô hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động của ngân hàng
và hoạt động kinh doanh chứng khoán. Các ngân hàng đa năng đợc phép cung
cấp đầy đủ các dịch vụ: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Mô hình này đợc
áp dụng tại Đức, các nớc Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sỹ và Aó.
Mô hình đa năng toàn phần cho phép các CTCK tận dụng triệt để các lợi
thế về nhân lực, vật lực để cung cấp các dịch vụ tổng hợp cho khách hàng.Việc
đa dạng hoá các dịch vụ cho phép ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinh
doanh, san sẻ rủi ro giữa các lĩnh vực đầu t, tăng khả năng chống đỡ của ngân
hàng trớc các biến động kinh tế.
Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần có
những hạn chế nhất định. Trớc hết, ngân hàng đa năng không có sự tách biệt
giữa vốn để cho vay với vốn để kinh doanh chứng khoán. Điều này gây khó
khăn cho công tác quản lý thị trờng và ảnh hởng tới việc kiểm soát khả năng
thanh toán của hệ thống ngân hàng.
Mô hình ngân hàng đa năng một phần.Trong mô hình này, ngân
hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có t cách
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
8
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
pháp nhân độc lập, do vậy loại bỏ đợc nhợc diểm của mô hình đa năng toàn phần,
tạo sự độc lập tơng đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Tuy nhiên, nó có nhợc điểm là tạo sự chồng chéo về tổ chức, làm giảm hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng. Mô hình này đã đợc áp dụng tại vơng quốc Anh,
Canada và úc.
Mô hình công ty chứng khoán độc lập (chuyên doanh). Mô hình này
tách biệt hoàn toàn với hai ngành công nghiệp ngân hàng và chứng khoán với việc
cấm ngân hàng tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán. Hoạt động chỉ dành
cho CTCK chuyên doanh đảm nhiệm. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro
cho cả hệ thống ngân hàng và TTCK. Mô hình này đợc áp dụng tại Mỹ theo đạo luật
glass-Steagall và ở Nhật. Tuy nhiên, mô hình CTCK chuyên doanh làm giảm sự
cạnh tranh trong hệ thống tài chính, đồng thời làm lãng phí tiềm lực về tài chính và
uy tín của các ngân hàng trong việc trợ giúp TTCK phát triển. Hiện nay, các nớc áp
dụng mô hình này cũng đang chuyển sang mô hình đa năng một phần bằng cách nới
lỏng các điều kiện cho phép các ngân hàng tham gia TTCK.
Các phân tích trên cho thấy, mỗi một mô hình đều có u nhợc điểm riêng và
không có mô hình nào là tối u cho một quốc gia. Với các nớc phát triển, trên cơ sở
các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, môi trờng pháp lý, kinh nghiệm tổ chức
quản lý và trình độ nhận thức cũng nh thu nhập của công chúng cao, có thể áp dụng
mô hình ngân hàng đa năng toàn phần sẽ giúp phát huy đợc những u thế của sự kết
hợp giữa hai lĩnh vực kinh doanh này với nhau. Song đối với các nớc đang phát triển,
mô hình ngân hàng đa năng một phần lại đảm bảo sự an toàn cần thiết cho hoạt
động của các ngân hàng và TTCK.
Cho dù theo mô hình nào, hoạt động của các CTCK bao giờ cũng bao gồm
các hoạt động sau: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành, t vấn, quản lý danh
mục đầu t và các hoạt động phụ trợ khác
1.1.3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Các nghiệp vụ chính
a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
9
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trờng OTC mà chính khách hàng sẽ phải
chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó. Rủi ro mà nhà môi
giới hay gặp phải là các khách hàng của mình hoặc nhà môi giới giao dịch khác
không thể thực hiện thanh toán đúng thời hạn.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các
sản phẩm, dịch vụ t vấn và kết nối giữa các nhà đầu t mua chứng khoán và nhà
đầu t bán chứng khoán. Và trong một vài trờng hợp, nhà môi giới sẽ là ngời
bạn, ngời chia sẻ những lo âu căng thẳng và đa ra những lời động viên kịp thời
cho nhà đầu t, giúp nhà đầu t có những quyết định tỉnh táo.
Nghiên cứu kỹ hơn về nghiệp vụ môi giới sẽ đợc trình bày trong phần
sau của chơng này.
b) Nghiệp vụ tự doanh
Nghiệp vụ tự doanh là nghiệp vụ kinh doanh trong đó CTCK mua bán
chứng khoán bằng tiền của mình, rủi ro do chính công ty chịu và họ có thể làm
thêm nhiệm vụ tạo thị trờng cho một loại chứng khoán nào đó. Luật của các n-
ớc quy định CTCK phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định trong giao dịch
của mình cho hoạt đông bình ổn thị trờng. Các công ty có nghĩa vụ mua vào
khi giá chứng khoán lên cao để kìm bớt giá và phải bán ra khi giá chứng
khoán xuống quá thấp nhằm giữ giá chứng khoán bình ổn ở một mức nhất
định nào đó.
Nhà giao dịch có lãi hay lỗ là tuỳ vào giá chênh lệch giữa giá mua và
giá bán chứng khoán, và biến động chung của giá chứng khoán do họ nắm giữ.
Hoạt động mua bán chứng khoán có thể là:
- Giao dịch gián tiếp: tức là CTCK đặt lệnh mua và bán chứng khoán
của mình trên sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng
nào xác định trớc.
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch giữa CTCK và khách hàng thông qua
thơng lợng. Đối tợng giao dịch loại này thờng là các loại trái phiếu, các cổ
phiếu đăng ký giao dịch ở thị trờng OTC.
c) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
10
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
Bảo lãnh phát hành là việc các tổ chức bảo lãnh giúp các tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trớc và sau khi chào bán chứng khoán, nh định giá chứng
khoán, phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán trong thời gian đầu.
Để đợc tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, CTCK phải có một số
vốn tơng đối lớn. Bởi đây là hoạt động mang tính rủi ro khá cao, vì thế CTCK
phải thực hiện một loạt các nghiên cứu kỹ lỡng trớc khi quyết định có hay không
chấp nhận bảo lãnh.
Thu nhập của CTCK từ hoạt động này là phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa
hồng nhất định trên số tiền thu đợc từ đợt phát hành. Mức phí này tuỳ thuộc vào
tính chất của đợt phát hành (số lợng lớn hay nhỏ, thuận lợi hay khó khăn, phát
hành lần đầu hay phân phối sơ cấp, )
Có ba phơng pháp bảo lãnh :
Bảo lãnh cam kết tối đa: là việc tổ chức bảo lãnh cam kết phân phối tối
đa số chứng khoán của tổ chức phát hành mà không cam kết có phân phối hết số
chứng khoán đó hay không.
Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức tổ chức bảo lãnh cam kết
mua toàn bộ số chứng khoán cha phân phối hết của tổ chức phát hành.
Bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không gì cả: nếu số chứng khoán đợc
phân phối cha đạt tới giới hạn tối thiểu đã đợc xác định trớc thì toàn bộ số chứng
khoán đã hoặc cha phân phối đều bị huỷ bỏ.
d) Nghiệp vụ t vấn
T vấn đầu t chứng khoán là hoạt động phân tích chứng khoán và sau đó đa
ra các khuyến nghị liên quan, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích
có liên quan đến chứng khoán.
Một trong những trở ngại quan trọng đối với thị trờng tài chính là vấn đề
thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Các nhà đầu
t có thể rất khó khăn trong việc thu thập và xử lý các thông tin. CTCK với lợi thế
chuyên môn hoá cao, các thông tin tin cậy, có thể dễ dàng hơn trong vấn đề này
và có thể chia sẻ thông tin với các nhà đầu t. Bằng cách này các nhà đầu t có thể
tiết kiệm chi phí và tăng chất lợng giao dịch.
Có hai hình thức t vấn:
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
11
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
T vấn trực tiếp: hình thức này đợc thực hiện khi các CTCK phân tích,
xử lý các tình huống đầu t của chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị
trực tiếp trên cơ sở một khoản lệ phí t vấn thoả thuận.
T vấn gián tiếp: ở đây CTCK có thể chia sẻ thông tin của mình thông
qua việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp chí, sách báo chuyên đề.
Việc phát hành các tài liệu này làm tăng uy tín và tạo thu nhập cho công ty. CTCK
phải có trách nhiệm về tính trung thực của những lời t vấn của mình đối với khách
hàng và trong nhiều trờng hợp, hoạt động t vấn phải đợc quản lý và cấp phép. Tuy
nhiên, trong hoạt động t vấn đầu t chứng khoán, nhà đầu t vẫn phải tự chịu trách
nhiệm về các quyết định đầu t của mình.
e) Quản lý danh mục đầu t
Quản lý danh mục đầu t là hoạt động quản lý tài sản của khách hàng thông qua việc
mua bán và nắm giữa các chứng khoán theo uỷ thác và vì quyền lợi của khách hàng.
Đối với nghiệp vụ này, khách hàng uỷ thác cho công ty thay mặt mình quyết định
đầu t theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng chấp thuận.
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu t, các trung gian tài chính đảm bảo
sự tách biệt giữa tài sản của khách hàng và của chính mình cũng nh lợi ích của cả
hai bên. Tuỳ theo sự tín nhiệm của khách hàng đối với công ty mà họ có thể uỷ
quyền một phần hoặc toàn bộ đối với việc quản lý tài sản. Định kỳ hoặc theo yêu
cầu của khách hàng, công ty gửi các bản sao kê về tình hình tài sản trong danh
mục cho các khách hàng, đồng thời họ cũng không đợc tiết lộ các thông tin về tài
sản của khách hàng trừ các trờng hợp đặc biệt.
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
Công ty
chứng
khoán
Nhận
yêu cầu
quản lý
Khách
hàng
Thanh
lý hợp
đồng
Ký hợp
đồng
quản lý
12
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu t, CTCK sẽ nhận đợc một khoản
lệ phí quản lý tài sản từ phía khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần tăng
uy tín và phát triển các hoạt động khác nh: lu ký, thanh toán, t vấn cho khách
hàng.
1.1.3.2 Các nghiệp vụ phụ trợ
a) Nghiệp vụ tín dụng
CTCK có thể cho khách hàng của mình vay để họ mua chứng khoán và
thế chấp chính những chứng khoán đó. Khi khách hàng không trả đợc nợ, công
ty có quyền bán các chứng khoán đó để thu hồi khoản vay. Giao dịch mua bán
với số tiền cho vay này đợc thực hiện trên tài khoản bảo chứng. Quy trình thực
hiện mua - bán không khác các giao dịch công ty thực hiện cho khách hàng
trên tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra đối với CTCK nếu chứng khoán đợc mua từ tiền vay giảm
giá. Vì thế đòi hỏi CTCK khi mở tài khoản bảo chứng cho khách hàng đòi hỏi một
tỷ lệ ký quỹ nhất định. Ngoài ra, công ty cũng đa sách lợc quản lý khoản vay, tránh
tập trung vào một loại khách hàng để đảm bảo thu hồi vốn.
b) Nghiệp vụ cho vay chứng khoán
Cho vay chứng khoán là hoạt động mà công ty cho khách hàng vay
chứng khoán để bán. Trong trờng hợp này khách hàng nghĩ rằng chứng khoán
sẽ giảm trong thời gian tới và khi đó khách hàng có thể mua lại chứng khoán
với giá rẻ hơn để trả cho CTCK. Công ty đợc hởng một phần tiền mà khách có
đợc nhờ chênh lệch giá. Loại giao dịch này thực chất là hình thức bán khống.
Hai loại giao dịch bảo chứng và bán khống đều có những tác động tích
cực nhất định đối với thị trờng, tạo ra tính thanh khoản, tạo thêm cung cầu và
còn có thể trở thành tác nhân giúp ổn định thị trờng nếu các giao dịch này đi
ngợc chiều với xu hớng biến động giá. Tuy nhiên, việc thực hiện các giao dịch
này chứa các rủi ro rất lớn cho nhà đầu t và các chủ thể liên quan nh công ty
chứng khoán. Vì vậy, nhiều TTCK hiện nay vẫn nghiêm cấm các giao dịch
này.
c) Nghiệp vụ lu ký chứng khoán
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
13
Chuyên đề tốt nghiệp ngân hàng - tài chính
Là việc lu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài
khoản lu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc đối với các giao dịch chứng
khoán, bởi vì các giao dịch này trên thị trờng tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ,
khách hàng phải mở tài khoản lu ký chứng khoán tại các CTCK (nếu chứng khoán
phát hành dới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dới
hình thức chứng chỉ vật chất). Khi thực hiện dịch vụ lu ký chứng khoán cho khách
hàng, CTCK sẽ nhận đợc các khoản thu từ phí lu ký chứng khoán, phí ký gửi, phí rút
và phí chuyển nhợng chứng khoán.
d) Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức)
Xuất phát từ việc lu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ
theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận
và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
e) Nghiệp vụ quản lý quỹ
ở một số TTCK, pháp luật của TTCK còn cho phép các CTCK đợc thực hiện
nghiệp vụ quản lý quỹ đầu t. Theo đó, CTCK sẽ cử đại diện của mình để quản lý
quỹ và sử dụng vốn cùng tài sản của quỹ đầu t để đầu t vào chứng khoán. Công ty sẽ
thu đợc phí dịch vụ quản lý quỹ đầu t.
Ngoài ra tuỳ vào sự phát triển của TTCK mà còn xuất hiện nhiều dịch vụ
khác để cung cấp cho nhà đầu t nhằm thoả mãn cao nhất các tiện ích, đồng thời
nâng cao chất lợng cho các dịch vụ chính.
1.2 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
1.2.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của môi giới chứng khoán
Thị trờng tài chính là một thể chế dợc thiết lập để các dịch vụ tài chính đợc
tạo ra và trao đổi, các chứng khoán đợc mua và bán. Trên thị trờng đó, các nhà đầu
t, đầu cơ chứng khoán tập trung lại để mua bán chứng khoán. Khác với các giao dịch
trao đổi hàng hoá khác, giao dịch trên thị trờng này bắt buộc phải đợc thực hiện
thông qua các CTCK và nhân viên môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán : là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán chứng
khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng. Nghề môi giới xuất hiện cùng với sự
xuất hiện của TTCK và thờng đợc xem là đặc quyền của CTCK.
Vũ Thị Thanh Xuân - TTCK 42B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét