Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Công nghệ đuờng dây thuê bao số ADSL & ứng dụng

yêu cầu, truyền hình số Điều này thúc đẩy các công ty viễn thông nhanh chóng
triển khai các giải pháp phân phối dịch vụ băng rộng tới khách hàng có hiệu quả
nhất.
Vấn đề khó khăn nằm trên những kilomet cuối tới thuê bao sử dụng các đôi
dây đồng đã đợc trang bị từ xa tới nay để cung cấp các dịch vụ PSTN cho khách
hàng trên khắp thế giới. Mạng truy nhập PSTN chỉ cung cấp một băng tần thoại hạn
hẹp 0,3ữ3,4 kHz với tốc độ truyền số liệu tối đa là 56 kbit/s nên không đáp ứng đợc
việc truyền tải các khối dữ liệu lớn có nội dung phong phú kèm hình ảnh sống động.
Để giải quyết vấn đề này nhiều kỹ thuật truy nhập băng rộng đã đợc đa ra xem xét :
1.1.1 Truy nhập mạng thông qua cáp đồng
Kỹ thuật truy nhập mạch vòng cáp đồng hay đợc gọi là kỹ thuật đờng dây
thuê bao số (DSL: Digital Subscriber Line) đã xuất hiện từ đầu những năm 1980.
Thực ra đây là một họ các công nghệ thờng đợc gọi là các công nghệ xDSL, chữ x
thể hiện cho các công nghệ DSL khác nhau nh : ADSL, HDSL, VDSL Đây là các
kỹ thuật truy nhập điểm tới điểm kết nối giữa thuê bao và tổng đài trung tâm cho
phép truyền tải nhiều dạng thông tin nh số liệu, âm thanh, hình ảnh qua đôi dây
đồng truyền thống.
5
Giải pháp của xDSL là sử dụng dải tần lớn hơn phía trên dải tần mà dịch vụ
thoại sử dụng vì vậy băng thông truyền dẫn cao hơn. Trên đó, ngời ta sử dụng các
phơng pháp mã hoá khác nhau để có thể truyền đợc tốc độ dữ liệu rất cao. Tốc độ
của đờng dây xDSL tuỳ thuộc thiết bị sử dụng, khoảng cách từ tổng đài tới thuê bao,
chất lợng tuyến cáp, kỹ thuật mã hoá Thông thờng kỹ thuật này cho phép hầu hết
khách hàng truyền từ tốc độ 128 kbit/s tới 1,5 Mbit/s. Với kỹ thuật mới nhất VDSL
cho phép truyền số liệu với tốc độ lên tới 52 Mbit/s theo hớng từ tổng đài xuống
thuê bao. Điểm nổi bật của kỹ thuật xDSL là tận dụng đợc cơ sở hạ tầng cáp đồng
phổ biến trên thế giới nên nó đã mau chóng chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang thị
trờng thơng mại rộng lớn đáp ứng nhu cầu phân phối các dịch vụ băng rộng tới ngời
sử dụng.Ví dụ ở Mỹ, một trong các lý do phát triển nhảy vọt của thị trờng DSL là sự
kiện sửa đổi điều lệ hoạt động viễn thông của quốc hội Mỹ vào năm 1996 cho phép
các công ty viễn thông cạnh tranh CLEC sử dụng những điều kiện truy nhập nh các
công ty độc quyền sở hữu mạng truyền tải nội hạt ILEC để cung cấp các đờng truy
nhập tốc độ cao cho dịch vụ của mình. Vì vậy đã tạo cơ hội cho những công ty cạnh
tranh thuê cơ sở hạ tầng của ILEC mà không cần đầu t xây dựng nên chi phí dịch vụ
giảm xuống thu hút nhiều khách hàng hơn.
Hình 1.1 Cấu trúc hệ thống truy cập mạng sử dụng công nghệ DSL
6
Ngoài ra, khi vấn đề đầu t xây dựng mạng truy nhập sử dụng cáp quang quá
tốn kém thì công nghệ này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà sản xuất thiết bị viễn
thông, các cơ quan quảng bá phát thanh truyền hình, các nhà khai thác dịch vụ, các
công ty điện thoại nội hạt tạo nên sự cạnh tranh làm giảm chi phí thiết bị và giá cả
dịch vụ. Một yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của công nghệ
này là sự ra đời các tiêu chuẩn chung cho hoạt động của xDSL do tổ chức viễn thông
quốc tế ITU và nhiều tổ chức tiêu chuẩn, nhóm làm việc khác đa ra.
1.1.2 Kỹ thuật truy nhập mạng thông qua cáp quang
Công nghệ truy nhập cáp trên môi trờng cáp sợi quang có các u điểm mạnh so
với cáp đồng. Sợi cáp quang cho phép tín hiệu truyền qua có cự ly xa hơn, khả năng
chống nhiễu và xuyên âm tốt, băng tần truyền dẫn rất lớn đảm bảo việc cung cấp các
dịch vụ băng rộng tới khách hàng. Nh vậy mạng truy nhập cáp quang là đích cuối
cùng của các nhà quản lý và khai thác viễn thông. Tuy nhiên việc xây dựng một
mạng truy nhập sử dụng cáp quang đòi hỏi sự đầu t ban đầu rất lớn. Việc thay thế
toàn bộ cơ sở hạ tầng sẵn có gồm hàng ngàn đôi dây đồng cùng các hệ thống cống
bể cha sử dụng hết khấu hao sẽ phải tính vào giá thành cho các dịch vụ mới cung
cấp. Hơn nữa nhu cầu sử dụng của mỗi thuê bao không tận dụng hết khả năng của 1
đôi sợi cáp quang nên sẽ gây lãng phí. Do vậy, phơng án lắp đặt cáp quang tới từng
cụm dân c (FTTC) hoặc tới các toà nhà (FTTB), các trụ sở cơ quan lớn (FTTO) có ý
nghĩa hơn. Tín hiệu số từ các nhà cung cấp dịch vụ truyền qua các tuyến trục chính
tới các tổng đài trung tâm. Từ đây tín hiệu đi theo phần mạng quang tới điểm phân
phối để chuyển đổi sang tín hiệu điện rồi đợc truyền trên đôi dây cáp đồng tới thuê
bao. Công nghệ VDSL phù hợp với đoạn dây đồng ngắn cho phép truyền tải luồng
thông tin từ phần mạng quang tới mỗi thuê bao là 52 Mbit/s và luồng lên là
2,3Mbit/s/thuê bao. Nh vậy, việc tồn tại đoạn cáp đồng cuối lại là một yếu tố thúc
đẩy sự phát triển của công nghệ xDSL. Phơng án sử dụng cáp đồng trục để truyền
tín hiệu từ phần kết cuối mạng quang ONU tới thuê bao trong cấu hình HFC cũng đ-
ợc sử dụng ở nhiều nớc . Mạng lai ghép quang/cáp đồng trục này sử dụng băng tần
từ 0-50 MHz cho hớng lên và 50-750 MHz cho hớng xuống cung cấp gần một trăm
kênh truyền dẫn tốc độ cao (6 MHz mỗi kênh) phân phối các luồng video tơng tự,
số, thoại, dữ liệu tới ngời sử dụng. Tuy nhiên HFC phân phối dữ liệu quảng bá tức là
cáp đồng trục có thể phân phối nhiều kênh video tới một vùng dân c nhng cùng một
thông tin. Khi dùng chung cho nhiều ngời sử dụng thì băng thông của mỗi kênh
trong HFC không cao bằng DSL. DSL phân phối dữ liệu riêng tới từng ngời sử dụng
nên linh hoạt hơn. Hơn nữa ở các nớc cha có sẵn mạng cáp đồng trục thì việc xây
dựng hệ thống này cũng đòi hỏi chi phí đầu t cao.
1.1.3 Kỹ thuật truy nhập mạng thông qua môi trờng vô tuyến
7
Kỹ thuật truy nhập vô tuyến cung cấp dịch vụ băng rộng có nhiều loại khác
nhau. LMDS - hệ thống phân bố đa điểm nội hạt là một kỹ thuật cung cấp các dịch
vụ đa phơng tiện hai hớng gồm cả thoại và số liệu tốc độ cao. Hệ thống này cho
phép những nhà cung cấp dịch vụ ở xa, không có cơ sở hạ tầng có thể cung cấp một
cách truy nhập có hiệu quả kinh tế tới khách hàng. LMDS sử dụng dải tần 1 GHz
trong băng tần từ 27,5ữ28,35 GHz, phạm vi phục vụ trong vòng bán kính 3ữ6 km.
MMDS - hệ thống phân bố đa điểm đa kênh cũng là một loại mạng băng rộng tơng
tự LMDS nhng hoạt động ở tần số 2,4 GHz. Hệ thống này có thể cung cấp 33 kênh
TV tơng tự tới các thuê bao trong bán kính 40-48 km từ trạm phát. Nếu tín hiệu
video đợc số hoá và nén thì số kênh cung cấp có thể lên tới 100 hoặc 150 kênh.
Cũng nh LMDS, MMDS yêu cầu anten thu tại nhà thuê bao phải trong tầm nhìn
thẳng với trạm phát. DBS - hệ thống quảng bá trực tiếp từ vệ tinh là thế hệ tiếp theo
của các dịch vụ truyền hình quảng bá nhờ vệ tinh. Hệ thống DBS sử dụng kỹ thuật
nén MPEG-2 cho tín hiệu video số làm tăng hiệu quả sử dụng băng tần. Kích thớc
anten tại nhà khách hàng giảm đi, chất lợng âm thanh và hình ảnh tốt hơn. Bộ set-
top box tại nhà khách hàng ngoài việc chuyển đổi tín hiệu số sang analog còn đợc
trang bị nhiều tính năng thông minh cung cấp nhiều dịch vụ mới nh truyền hình tơng
tác và thông tin theo yêu cầu. Mạch vòng thuê bao vô tuyến WLL cũng là một giải
pháp đợc sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới. WLL có u điểm là lắp đặt triển khai
nhanh chóng, dễ thay đổi cấu hình lắp đặt lại ở phía thuê bao, dễ triển khai ở những
khu vực có địa hình hiểm trở. Tuy nhiên chi phí cho một thuê bao vẫn cao hơn so
với cáp đồng và dung lợng bị hạn chế theo dải tần đợc cung cấp bởi cơ quan quản lý
tần số.
Những nhợc điểm mà kỹ thuật truy nhập vô tuyến không đợc lựa chọn làm giải
pháp mạng truy nhập hiện nay là : khó đáp ứng yêu cầu truyền thông 2 chiều, khó
triển khai trong vùng đô thị. Các hệ thống LMDS/MMDS thì chịu nhiều ảnh hởng
của thời tiết dễ h hại do ma, bão, sấm, sét Để tăng vùng phủ sóng của hệ thống
DBS yêu cầu phải tăng số vệ tinh tuy nhiên vị trí của chúng là một vấn đề khó khăn
cho các nhà cung cấp dịch vụ, giá thành vệ tinh cao. Các hệ thống này còn thiếu các
chuẩn chung nên không thể mua một đĩa vệ tinh của một hãng để sử dụng với một
hệ thống khác. Thậm chí với cùng một hãng cũng phải mua các đĩa vệ tinh khác
nhau cho các dịch vụ số liệu và truyền hình quảng bá. WLL chỉ đem lại nhiều u
điểm khi triển khai ở những vùng dân c tha thớt, tận dụng đợc những trạm gốc đã có
sẵn.
Với lợi thế tận dụng mạng lới cáp đồng đang tồn tại rộng khắp trên thế giới
không đòi hỏi vốn đâù t ban đầu quá lớn với các kỹ thuật đang ngày càng hoàn thiện
nhằm cung cấp cho khách hàng mọi dịch vụ băng rộng theo yêu cầu với giá cả hợp
lý nên công nghệ xDSL đang thực sự trở thành sự lựa chọn số 1 cho các nhà cung
cấp dịch vụ trong giai đoạn hiện nay.
8
1.2 Công nghệ xDSL
xDSL là một họ công nghệ đờng dây thuê bao số gồm nhiều công nghệ có tốc
độ, khoảng cách truyền dẫn khác nhau nên đợc ứng dụng vào các dịch vụ khác nhau.
Bảng 1.1 sẽ liệt kê các loại công nghệ và tính chất của từng loại.
Nói chung thì những công nghệ xDSL có thể đợc phân loại theo tính đối xứng, số
đôi dây cáp xoắn đợc sử dụng, chồng phổ hay không chồng phổ băng tần thoại, có
bộ chia hay không có bộ chia và tốc độ biến đổi hay cố định.
Ví dụ khi phân loại theo tính chất của công nghệ là đối xứng hay không đối
xứng thì có thể phân thành 3 nhóm chính nh sau :
Công nghệ HDSL truyền dẫn hai chiều đối xứng gồm HDSL/HDSL2 đã đợc
chuẩn hoá và những phiên bản khác nh : SDSL, MDSL, IDSL.
Công nghệ ADSL truyền dẫn hai chiều không đối xứng gồm ADSL/ADSL.
Lite (G.Lite) đã đợc chuẩn hoá và các công nghệ khác nh CDSL, Etherloop,
Công nghệ VDSL cung cấp cả dịch vụ truyền dẫn đối xứng và không đối
xứng.

Công nghệ Tốc độ
Khoảng cách
Truyền dẫn
Số đôi dây
đồng sử dụng
Hổ trợ đồng
thời POTS
IDSL 144 Kb/s đối 5km 1 đôi Không
HDSL
1,544Mb/s đối
xứng
2,048Mb/s đối
xứng
3,6 km 4,5
km
2 đôi
3 đôi
Không
HDSL2
1,544Mb/s đối
xứng
2,048 Mb/s đối
xứng
3,6 km 4,5
km
1 đôi
Không
SDSL
768kb/s đối
xứng
1,544Mb/s
hoặc
2,048 Mb/s
một chiều
7 km
3 km
1 đôi Có thể
9
ADSL
1,5- 8 Mb/s luồng
xuống
1,544 Mb/s
luồng lên
5km (tốc độ
càng cao thì
khoảng cách
càng ngắn )
1 đôi Có
VDSL
26 Mb/s đối xứng
1352 Mb/s
luồng xuống
1,5-2,3 Mb/s
luồng lên
300 m 1,5
km
(tuỳ tốc độ)
1 đôi Có
Bảng 1.1: Các công nghệ DSL
1.3 Tình hình triển khai xDSL trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 725 triệu đờng truy nhập là đôi dây
đồng kết nối tới các hộ gia đình cũng nh các khách hàng thơng mại. Cơ sở hạ tầng
này là điều kiện để các công ty viễn thông triển khai công nghệ xDSL và mở ra một
kỹ nguyên mới cho truy nhập băng rộng trên toàn thế giới.
Hiện nay kỹ thuật xDSL đã đợc phát triển mạnh mẽ do các thiết bị trên thị tr-
ờng hoạt động tơng thích với nhau do có những tiêu chuẩn chung, giá thành thiết bị
giảm nhanh chóng đồng thời những tiến bộ kỹ thuật mới cho phép ngời sử dụng tự
lắp đặt thiết bị tại nhà, giảm chi phí dịch vụ.
Trong cuộc họp của DSL Forum tại Rome vào tháng 3/2002 cho thấy DSL đã
đợc chấp nhận nh một kỹ thuật truy nhập băng rộng dẫn đầu trên thế giới với tổng số
thuê bao lên tới 18,7 triệu khách hàng (bảng 1.2). Ngời ta dự đoán số thuê bao này
còn tăng nhanh và đạt tới 200 triệu thuê bao vào năm 2005.
Bảng 1.2 Số lợng thuê bao DSL trên thế giới năm 2002
Khu vực
Tổng số
thuê bao
DSL
Số lợng thuê
bao nhà riêng
% thuê bao
nhà riêng so
với tổng số
ngời dùng
Số lợng
thuê bao là
doanh nghiệp
% doanh
nghiệp so với
tổng ngời
dùng
Châu á-Thái
bình dơng
7,949,000 6,970,000 87.7 979,000 12.3
Bắc mỹ 5,510,000 4,267,000 77.4 1,242,000 22.6
10
Tây âu 4,232,000 3,523,000 83.2 709,000 16.8
Đông Nam á 499,000 374,000 75 125,000 25
Châu Mỹ
latinh
380,000 271,000 71.3 110,000 28.7
Đông Âu 53,000 32,000 60.4 21,000 39.6
Khu vực
Trung Đông
và châu Phi
48,000 37,000 77 11,000 23
Toàn thế giới 18,671,000 15,473,000 82.9 3,196,000 17.1
Tại Việt nam, các dịch vụ DSL cũng đã từng bớc đợc triển khai. Chủ yếu là dịch
vụ HDSL đợc sử dụng trong các đờng E1của mạng truyền số liệu. Tuy nhiên các
nhu cầu truy nhập Internet tốc độ cao và các dịch vụ video theo yêu cầu đang tăng
nhanh đã góp phần thúc đẩy các dịch vụ ADSL mau chóng đợc triển khai.
Đầu tháng 4/2002 , hệ thống ADSL đầu tiên đã đợc thử nghiệm tại Hải Phòng
với đờng truyền 8Mbps/2Mbps. Tuy nhiên tốc độ download xấp xĩ 5Mbps và tốc độ
upload xấp xĩ 400 kbps. Đầu tháng 5/2002 hệ thống này đã đợc tiếp tục triển khai tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Mính và theo kế hoạch sẽ đa vào sử dụng vào tháng
7/2002. Tuy nhiên cho đến nay thì hệ thống này mới chỉ đợc thử nghiệm một cách
hạn chế đối với một số thuê có khoảng cách đến tổng đài nhỏ hơn 1km.
11
CHƯƠNG 2 : CƠ Sở Kỹ THUậT Xdsl
2.1 Một số vấn đề khi truyền dẫn tín hiệu trên mạng PSTN
2.1.1 Sự suy giảm tín hiệu do khoảng cách
Cũng giống nh trong bất cứ một môi trờng truyền dẫn nào, tín hiệu truyền
trên sợi dây đồng cũng bị suy giảm về độ lớn. Khoảng cách càng dài thì tín hiệu tại
đầu thu bị suy giảm càng mạnh. Do đó vấn đề làm sao để có thể thu lại đợc tín hiệu
mong muốn ban đầu ở bộ thu, điều này phụ thuộc vào tỷ số tín hiệu trên tạp âm (S/
N). Khi tỷ số này giảm mạnh thì bộ thu sẽ khó phân biệt đợc chính xác tín hiệu.
Loại dây và tần số tín hiệu cũng là hai trong nhiều nhân tố ảnh hởng mạnh đến sự
suy giảm này. Do đó dung lợng (tốc độ cực đại) của một kênh có độ rộng băng tần
B(Hz) cũng bị ảnh hởng và đợc tính theo công thức :

sbit
N
S
BC /)1(log
2
+ì=
Định lý Nyquist chỉ rõ khả năng truyền R
s
ký hiệu độc lập trong 1 giây
không có giao thoa giữa các ký hiệu đi qua bộ lọc thông thấp lý tởng có băng thông
R
s
/2 nghĩa là:
Độ rộng băng B
2
s
R
(Hz)
Trong hệ thống PCM , tốc độ truyền các ký hiệu bằng số lợng bit trong một
từ mã đợc tạo ra (b) từ xung lợng tử nhân với tần số lấy mẩu f
s
.
Số bit trong một từ mã : b=log
2
Q với Q là số mức lợng tử
Độ rộng băng tần của hệ thống PCM sử dụng mã nhị phân:
B
PCM

Q
f
s
2
log
2
ì
(Hz)
12
Để giảm bớt băng tần trớc khi truyền trên kênh thì phải sử dụng các phơng
pháp điều chế M trạng thái nh (BPSK, QPSK,QAM )trong đó thay các xung nhị
phân bằng dãy xung dãy xung M mức:
Do đó băng tần truyền dẫn lú này :B
M
Q
f
s
2
2
log
log
2
ì
(kHz)
Hiệu suất sử dụng phổ tần :
B
R
s
=

(bit/s/Hz)
Khi sử dụng điều chế :

+
=
1
s
R
B
Hz với là hệ số điều chế và thờng có giá trị
nằm trong khoảng (0.5ữ0.7)
R
s
(tốc độ bit)=
M
T
2
log
1
(b/s) với T là tốc độ ký hiệu tính bằng baud
Chú ý một điều rằng khi mức điều chế càng cao (M càng cao) thì hiệu suất sử
dụng băng thông càng lớn (do nhỏ_lý tởng =0).Băng tần giảm nên sẽ tiết kiệm
đợc băng tần. Tuy nhiên khi M làm cho số mức tăng, khoảng cách giữa các mức
giảm xuống làm. Do đó nhiễu tác động lên chúng làm càng khó phân biệt các mức
hơn và do vậy cho lỗi trong quá trình hoạt động tăng.
2.1.2 Môi trờng tạp âm
Tín hiệu truyền đi trên đờng dây đồng chịu tác động của môi trờng tạp âm của
bản thân mạch vòng dây đồng. Tạp âm làm giảm tỷ số S/N gây khó khăn cho việc
xác định chính xác tín hiệu ở đầu thu. Mạch vòng dây đồng có một số nguồn tạp âm
sau:
Tạp âm trắng(nhiễu nhiệt độ):Tạp âm nhiệt gây ra do chuyển động của
các electron trong đờng dây có thể coi nh tạp âm trắng có phân bố Gausian đợc gọi
là tạp âm trắng Gausian cộng AWGN. Tạp âm này ảnh hởng độc lập lên từng kí hiệu
đợc truyền hay nói cách khác chúng đợc cộng với tín hiệu bản tin. Nhiễu này là
nhiễu không thể tránh đợc và đợc tính nh sau:
N
o
=kT
N
o
: Độ nhạy nguồn nhiễu
k : Hằng số boltzman (k=1,38*10
-23
J/K)
T : Nhiệt độ Kenvin
Nhiễu này cũng không phụ thuộc vào tần số do đó nó đợc tính bằng Watt trong toàn
băng thông B
N=kTB hay đợc tính bằng decibel-watt
N = 10logk + 10logT+10logB = -228,6dBW + 10logT + 10logB
13
Xuyên âm: Xuyên âm xảy ra khi tín hiệu từ các đôi dây kế cận gây nhiễu
với nhau. Thành phần xuyên âm tiếp tục truyền theo hớng ban đầu gọi là xuyên âm
đầu xa FEXT. Thành phần xuyên âm truyền ngợc lại tới đầu phát gọi là xuyên âm
đầu gần NEXT. NEXT có ảnh hởng lớn hơn FEXT đối với truyền dẫn hai chiều đối
xứng vì FEXT bị suy hao trong suốt chiều dài truyền dẫn trong khi NEXT chỉ đi qua
một khoảng cách nhỏ rồi quay trở lại đầu phát. Một dạng đặc biệt của NEXT là
nhiễu trong một đôi dây kế cận có cùng dạng tín hiệu truyền dẫn, đợc gọi là self-
NEXT (tự xuyên âm). Vì đôi dây đồng thờng nằm trong một bó cáp nhiều đôi với
chiều dài mạch vòng ngắn nên ảnh hởng của xuyên âm đầu gần rất lớn.
NEXT FEXT
Đôi dây 1
Đôi dây 2
Hình 2.6 Xuyên âm đầu gần và xuyên âm đầu xa
Nhiễu tần số vô tuyến : Các đờng dây xoắn đôi cân bằng ban đầu đợc thiết
kế để truyền thoại nên chỉ chống đợc ảnh hởng của các tín hiệu tần số vô tuyến ở tần
số làm việc thấp. Còn hệ thống DSL làm việc với tần số cao thì sự cân bằng bị giảm
nên bị các tín hiệu tần số vô tuyến RFI có thể xâm nhập. Mức độ nhiễu phụ thuộc
vào khoảng cách nguồn nhiễu tới mạch vòng.
Những nguồn nhiễu chính thuộc loại này là các hệ thống vô tuyến quảng bá
điều biên AM và các hệ thống vô tuyến nghiệp d. Các trạm vô tuyến AM phát quảng
bá trong dải tần từ 560ữ1600 KHz. Tuy nhiên do tần số làm việc của các trạm này là
cố định nên nhiễu do chúng gây ra có thể dự đoán đợc. Ngợc lại, nhiễu vô tuyến
nghiệp d lại không đoán trớc đợc vì tần số làm việc thay đổi và có nhiều mức công
suất phát. Nhng nhiễu này chỉ ảnh hởng tới VDSL vì dải tần vô tuyến nghiệp d chỉ
chồng lấn lên băng tần truyền dẫn của VDSL.
Tạp âm xung: Sinh ra do giao thoa điện từ tức thời. Ví dụ khi có bão sét,
thiết bị trong nhà bật, tắt . .Tạp âm xung có thể kéo dài từ vài às tới vài ms.
Truyền dẫn số liệu cũng bị suy yếu mạnh do các cầu nối rẽ (bridge tap) trên
đờng dây. Cầu nối rẽ là những đoạn dây đợc nối vào đôi dây phân bố để mở rộng
mạch vòng thuê bao. Nó cho phép truy nhập từ nhiều điểm giao diện mạng của
khách hàng hoặc tận dụng đôi dây của một khách hàng cũ không sử dụng nữa cho
một yêu cầu mới gần đôi dây này. Những cầu nối rẽ không đợc kết cuối ở cuối đôi
dây xoắn và gây ảnh hởng tới việc truyền số liệu (hình 2.7). Khi một xung truyền
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét