Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Cty xây dựng Hai Bà Trưng

Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
bằng tiền của toàn bộ tài sản đợc sử dụng đầu t vào qúa trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời.
2. Đặc trng của vốn.
Vốn là điều kiện quan trọng không thể thiếu đợc khi thành lập một doanh
nghiệp và khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong thời kì bao cấp,
phần lớn vốn của doanh nghiệp đợc nhà nớc cấp phát hoặc cho vay với lãi suất
thấp. Các doanh nghiệp từ trên xuống, không đợc tự chủ trong kinh doanh và ít
phải chịu trách nhiệm trớc hiệu quả nên ngời ta không quan tâm đến các đặc trng
của vốn. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp phải tự lo vốn để
sản xuất. Bởi vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải biết cách quản lý và sử dụng vốn sao
cho có hiệu quả. Do đó, phải biết đầy đủ hơn về các đặc trng của vốn.
Một là, vốn phải đại diện cho một lợng giá trị của các tài sản hữu hình và
vô hình nh: nhà xởng, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.
Hai là, vốn phải vận động sinh lời. Vốn đợc biểu hiện bằng tiền nhng chỉ là
ở dạng tiềm năng của vốn, để biến tiền thành vốn thì tiền đó phải vận động sinh
lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhng
điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là biểu hiện giá trị bằng
tiền. Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Đó
cũng chính là nguyên lý đầu t, bảo toàn và sử dụng vốn. Nếu nh đồng tiền vận
động không có hiệu quả thì nó ảnh hởng đến chu kì kinh doanh của doanh nghiệp.
Ba là, vốn phải đợc tích luỹ và tập trung đến một lợng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng. Để đầu t vào sản xuất kinh doanh doanh nghiệp, không những
phải khai thác tiềm năng vốn của mình mà còn phải huy động các nguồn vốn từ
bên ngoài.
Bốn là, vốn có giá trị về mặt thời gian. Trớc kia trong thời kì bao cấp, nhà
nứoc đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo. Khi chuyển sang kinh tế
5
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
thị trờng, giá trị của đồng tiền đợc xem xét một cách nghiêm túc vì nó bị ảnh h-
ởng bởi nhiều yếu tố giá cả, lạm phát.
Năm là, vốn phải đợc gắn với chủ sở hữu. Mỗi đồng vốn phải gắn với chủ
sở hữu nhất định, thực tế không thể có những đồng vốn vô chủ, ở đâu có động vốn
vô chủ, ở đó có sự lãng phí, kém hiệu qủa.
Cần phải có sự phân biệt rõ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Dù
trong bất kì trờng hợp nào thì ngời sở hữu vốn cần phải đợc u tiên đảm bảo về
quyền lợi, đợc tôn trọng quyền sở hữu đồng vốn của mình. Đây là nguyên tắc rất
quan trọng trong huy động và quản lý vốn.
Sáu là, vốn phải đợc quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt. Ngời cầu
vốn và ngời có vốn đợc quan hệ với nhau bởi giá cả của vốn, đó chính là lãi suất.
Khác với hàng hoá thông thờng, khi đồng hàng hoá vốn đợc bán đi thì không mất
quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng vốn. Việc mua bán vốn đợc diễn ra trên
thị trờng tài chính, giá cả cũng đợc tuân theo quan hệ cung cầu trên thị trờng.
Bảy là, vốn không những biểu hiện bằng tiền của tài sản hữu hình mà còn
biểu hiện bằng những giá trị của những tài sản vô hình nh: nhãn hiệu, bản quyền,
bằng phát minh, sáng chế, bí quyết công nghệ, Tài sản vô hình ngày càng phong
phú, đa dạng và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của
doanh nghiệp. Việc xác định giá trị tài sản vô hình là rất cần thiết trong trờng hợp
góp vốn đầu t liên doanh, đánh giá lại tài sản, thanh lý tài sản.
Qua những đặc trng trên của vốn, ta càng hiểu rõ thêm về tầm quan trọng
của nó. Vốn có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Và
chỉ khi nào doanh nghiệp nhận thức rõ tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn sử
dụng thì doanh nghiệp mới sử dụng một cách có hiệu quả.
3. Các cách phân loại vốn kinh doanh.
Tuỳ theo mục đích và tính chất sử dụng, vốn doanh nghiệp chia làm nhiều
loại khác nhau.
3.1. Theo nguồn hình thành
6
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
Căn cứ vào đối tợng tài trợ, vốn kinh doanh cho doanh nghiệp có thể chia
làm hai loại nh sau:
* Nguồn vốn đi vay : Đợc huy động qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức
tín dụng hay trực tiếp từ các chủ thể cho vay khác. Hình thức vay cũng rất đa
dạng, có thể vay ngắn hạn nhằm bổ sung cho nguồn vốn lu động thiếu phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh, hay là vay trung và dài hạn nhằm tăng cờng
cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp, nâng cao năng lực và sản xuất hiện có.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trờng hiện nay, nguồn vốn này rất phổ biến và tơng
đối lớn, điểm nổi bật của nguồn vốn này là rất linh động, nó đảm bảo khả năng
thanh toán nhanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phát huy đợc nguồn vốn này,
doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở sản xuất kinh doanh có lãi và uy tín trên thơng
trờng. Doanh nghiệp phải tận dụng nguồn vốn này hiệu quả nhất và thờng xuyên
nhất.
* Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu và sử dụng. Vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp đợc hình thành từ nhiều nguồn:
- Vốn có nguồn gốc từ ngân sách: Nguồn vốn này chỉ áp dụng đối với
các doanh nghiệp nhà nớc, nguồn này có thể do nhà nớc trực tiếp cung cấp hay do
các khoản chi phí lẽ ra phải nộp cho nhà nớc nhng đợc giữ lại để doanh nghiệp
đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này không lớn và chỉ u tiên cho
những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng đợc nhà nớc quan tâm.
- Nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đợc hình thành từ nhiều nguồn:
+ Vốn có nguồn gốc từ ngân sách: Nguồn vốn này chỉ áp dụng đối
với các doanh nghiệp nhà nớc, nguồn này có thể do nhà nớc trực tiếp cung cấp
hay do các khoản chi phí lẽ ra phải nộp cho nhà nớc nhng đợc giữ lại để doanh
nghiệp đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này không lớn và chỉ u
tiên cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng đợc nhà nớc
quan tâm.
7
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
+ Nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp: là nguồn do doanh
nghiệp tự bổ sung, chủ yếu từ các nguồn nh: quĩ khấu hao các loại tài sản của
doanh nghiệp, quĩ phát triển kinh doanh do phần lợi nhuận hàng năm giữ lại,
nguồn tài chính do điều chỉnh cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp, nguồn
chênh lệch giá đợc để lại (nếu có). Đối với doanh nghiệp, nguồn này có ý nghĩa
rất lớn và chỉ khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả mới có nguồn này. Nó sẽ
góp phần nâng cao vị trí tài chính của doanh nghiệp, thể hiện nội lực giúp doanh
nghiệp tăng vốn đầu t, mở rộng sản xuất kinh doanh.
+ Nguồn liên doanh liên kết: trên cơ sở nhận thấy đợc lợi nhuận của
cơ hội kinh doanh và sự tin tởng lẫn nhau, các doanh nghiệp có thể hợp tác đầu t
trên cơ sở liên doanh liên kết: sự liên doanh liên kết này có thể giữa các doanh
nghiệp trong nớc với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp trong nớc với các doanh
nghiệp nớc ngoài.
Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách phát hành
cổ phiếu, trái phiếu hoặc tín dụng thuê mua.
3.2. Theo đặc điểm luân chuyển vốn.
Dựa vào tính chất luân chuyển, vốn đợc chia thành vốn cố định và vốn lu
động.
3.2.1. Vốn cố định
Khái niệm đặc điểm vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất. Khi tham gia vào quá trình
sản xuất, sự vận động của vốn gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là
tài sản cố định.
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu, có đặc điểm là tham gia
vào nhiều chu kì sản xuất. Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị
tiêu hao hoàn toàn trong những lần sử dụng đầu tiên mà đợc chuyển dịch từng
phần vào giá thành sản phẩm của chu kì tiếp theo: tài sản cố định trực tiếp hoặc
gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng có
thể là máy móc thiết bị nhà xởng hay phơng tiện vận tải, truyền dẫn. Sự mở rộng
và phát triển của quan hệ hàng tiền cũng nh sự mở rộng phạm vi đầu t đã góp
phần mở rộng khái niệm tài sản cố định. Một số khoản chi phí phát sinh và tính
8
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
chất luân chuyển giá trị của nó tơng tự nh đặc điểm luân chuyển của vốn cố định.
Những chi phí này đợc xem là những tài sản cố định không có hình thái hiện vật.
Đó là những chi phí để mua bằng sáng chế, chi phí cải tạo đất đai.
Nh vậy, tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định
vô hình. Trong quá trình sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn song chúng vẫn giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu và chỉ bị thải hồi khi chúng bị hao mòn hoàn
toàn và không có lợi ích về mặt kinh tế. Nh những hàng hoá khác, tài sản cố định
cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Thông qua hoạt động mua bán,
trao đổi, ngời ta có thể thay đổi quyền sở hữu một loại tài sản nào đó. Vì vậy,
doanh nghiệp luôn cần có một số vốn ứng trớc nhất định để mua sắm và xây
dựng, thiết lập cơ sở vật chất ban đầu cho việc đầu t và sản xuất kinh doanh.
Khoản vốn tiền tệ đợc ứng trớc ra đó chính là vốn cố định.
Đặc điểm vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định đợc gắn
liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Chính đặc điểm của
tài sản cố định quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định, tạo
nên đặc thù của vốn cố định.
- Là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, vốn cố định tham
gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh.
- Đợc luân chuyển dần từng phần vào quá trình sản xuất. Khi tham gia
vào quá trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần.
Theo đó, vốn cố định cũng đợc tách thành hai phần, một phần gia nhập vào
chi phí sản xuất sản phẩm (dới hình thức chi phí khấu hao), tơng ứng với việc giá
trị tài sản giảm dần, phần còn lại đợc cố định và sẽ giảm đi tơng ứng với mức
giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định sau một thời gian dài. Vào lúc tài sản
cố định hết thời gian sử dụng, vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển.
Tóm lại, vốn cố định là một khoản tiền đợc đem đầu t vào việc mua sắm,
xây dựng tài sản cố định. Vốn cố định có đặc điểm luân chuyển dần dần từng
phần trong nhiều chu kì sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi hết thời
gian sử dụng.
9
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, vốn cố định là phần vốn đầu t mua
sắm các loại tài sản cố định dới hai hình thức: ngân sách cấp phát và vay ngân
hàng ( một phần đợc lấy tự quĩ khuyến khích phát triển sản xuất). Vốn cố định
giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, nó quyết định đến việc
trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật, đổi mới kĩ thuật, công nghệ sản xuất, quyết định
việc ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến trên thế giới. Do đó ở vị trí
then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tuân theo tính qui luật riêng của việc
quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định đợc coi là một trọng điểm của
công tác tài chính doanh nghiệp.
Phân loại và kết cấu tài sản cố định.
Để tạo điều kiện cho việc quản lý và sử dụng tài sản cố định, ngời ta thờng
tiến hành phân chia tài sản cố định theo những tiêu chuẩn nhất định.
- Phân tài sản cố định theo hình thái biểu hiện:
Theo phơng pháp này, tài sản cố định đợc chia thành hai loại: đó là tài sản
cố đinh có hình thái vật chất và tài sản cố định không có hình thái vật chất
Tài sản cố định có hình thái vật chất là những tài sản đợc biểu hiện bằng
hình thái vật chất cụ thể nh: nhà xởng, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải,
truyền dẫn, công trình xây dựng.
Tài sản cố định không có hình thái vật chất là những tài sản không đợc biểu
hiện bằng những hiện vật cụ thể mà thờng là những khoản chi phí đầu t cho sản
xuất kinh doanh. Khi nền kinh tế thị trờng phát triển mạnh, tiến bộ khoa học kĩ
thuật trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, hàm lợng chất xám trong các sản phẩm
hàng hoá dịch vụ đợc coi là một nhân tố quan trọng thì khi đó những tài sản cố
định không có hình thái vật chất càng trở nên phong phú và đa dạng hơn.
Phơng pháp phân loại trên sử tạo cho các nhà quản lý có một nhãn quan
tổng thể về cơ cấu đầu t của doanh nghiệp. Đây là một căn cứ quan trọng để xây
dựng cho phù hợp với tình hình thực tế. Mặt khác cũng nhờ phơng pháp phân loại
nay giúp doanh nghiệp có thể để ra các phơng pháp quản lý tài sản, quản lý vốn,
tính khấu hao chính xác và hợp lý.
- Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế:
10
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình của doanh
nghiệp đợc chia thành hai loại: tài sản cố định dùng trong sản xuất và tài sản cố
định dùng ngoài sản xuất kinh doanh.
Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản là những tài sản
hữu hình và vô hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh của
đơn vị. Thuộc loại này bao gồm các tài sản nh: nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị
động lực, truyền dẫn, thiết bị máy móc sản xuất.
Tài sản dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản là những tàu sản dùng cho
hoạt động phù trợ của doanh nghiệp và những tài sản không mang tính chất sản
xuất. Thuộc loại này bao gồm: nhà của và các thiết bị phục vụ cho sản xuất kinh
doanh phù trợ, nhà cửa và các thiết bị phục vụ cho việc tiếp khách, các công trình
phúc lợi và tài sản cố định cho thuê.
Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế sẽ giúp cho ngời quản lý
thấy đợc kết cấu của tài sản, nắm đợc trình độ trang bị kĩ thuật của đơn vị, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tài sản và tình hình khấu hao chính xác. Vì
thế, phơng pháp phân loại này đợc sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý tài
chính kế toán thống kê. Tuy nhiên, phơng pháp này cha phản ánh đợc tình hình sử
dụng tài sản cố định của đơn vị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tài sản và
tính khấu hao chính xác.
3.2.2.Vốn l u động của doanh nghiệp
Khái niệm và đặc trng của vốn lu động.
Để tiến hành hoạt động sản xuất, ngoài t liệu lao động là tài sản cố định,
doanh nghiệp còn cần tới đối tợng lao động. Đối tợng lao động đợc thể hiện thành
hai bộ phận: một bộ phận là những vật t trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất đ-
ợc liên tục, và bộ phận khác là những vật t đang trong qúa trình chế biến. Hai bộ
phận này đợc biểu hiện dới hình thái vật chất gọi là tài sản lu động. Để phục vụ
cho quá trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay
thế, đóng gói. Những tài sản này cũng đợc gọi là tài sản lu động. Mặt khác trong
quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lu thông, thông
qua các hoạt động đóng goi, xuất giao sản phẩm và thanh toán. Do vậy, trong
khâu lu thông cũng hình thành một khoản vốn thanh toán. Tài sản lu động nằm
11
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
trong quá trình sản xuất và lu thông thay chỗ cho nhau vận động không ngừng
nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đợc liên tục và thuận lợi.
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần có một số vốn nhất định để đầu t
vào các tài sản ấy. Số tiền ứng trớc đó đợc gọi là vốn lu động.
Đặc điểm của vốn lu động
Vốn lu động đợc chuyển hoá qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ
hình thái tiền tế sang hình thái dự trữ vật t hàng hoá, tham gia vào quá trình sản
xuất lu thông và cuối cùng lại trở lại hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc diễn ra liên tục không ngừng, do vậy,
vốn lu động cũng tuần hoàn không ngừng và tồn tại cùng một lúc dới nhiều hình
thái khác nhau trong quá trình dự trữ, sản xuất. Nh vậy, vốn lu động luân chuyển
toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau mỗi chu kì sản xuất.
Vốn lu động là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản
xuất, nó là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật t, phản ánh
quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn, các tiêu thức phân bổ,
quay vòng vốn, doanh nghiệp nắm đợc tình hình sử dụng vốn, đánh giá kịp thời
công tác mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ cũng nh đa ra các quyết định đầu t
và phân bổ một cách hợp lý.
Phân loại và kết cấu vốn lu động của doanh nghiệp.
Qua phân tích ở trên cho thấy, vốn lu động là hình thái giá trị của nhiều
yếu tố tạo thành, mỗi yếu tố có tính năng, tác dụng riêng. Để quản lý và sử dụng
vốn lu động có hiệu quả, ta phải tiến hành phân loại vốn lu động theo một số chỉ
tiêu sau:
- Căn cứ vào qúa trình tuần hoàn, luân chuyển vốn, vốn lu động đợc chia
ra làm ba loại:
+ Vốn lu động nằm trong qúa trình dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, đóng
gói bao bì, công cụ lao động nhỏ dự trữ và chuẩn bị đa vào sản xuất.
12
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
+ Vốn lu động nằm trong quá trình sản xuất trực tiếp: là bộ phận vốn
trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất nh: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm tự
chế, chi phí chờ phân bổ.
+ Vốn lu động nằm trong quá trình lu thông: là phần vốn trực tiếp phục
vụ cho việc lu thông tiêu thụ hàng hoá, bao gồm: vốn thành phẩm, vốn tiền tệ, vốn
thanh toán.
- Căn cứ vào phơng pháp xác định vốn, ngời ta chia vốn lu động ra làm
hai loại:
+ Vốn lu động định mức: là vốn lu động đợc qui định mức tối thiểu
định mức thờng xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó
bao gồm vốn lu động nằm trong qúa trình dự trữ, vốn lu động nằm trong qúa trình
sản xuất trực tiếp và thành phẩm hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản
phẩm,vật t thuê ngoài chế biến.
+ Vốn lu động không trong định mức: là vốn lu động có thể phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhng không có căn cứ để
tính toán định mức đợc, chẳng hạn nh thành phẩm đang trên đờng gửi bán, vốn
tiết kiệm.
Các cách phân loại này giúp doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm tra
kết cấu tối u của vốn lu động, để dự thảo những quyết định tối u về mức tận dụng
số vốn lu động đã bỏ ra. Kết cấu vốn lu động là tỷ trọng từng khoản vốn chiếm
trong tổng số vốn lu động của doanh nghiệp. Kết cấu vốn lu động trong doanh
nghiệp chịu ảnh hởng của nhiều nhóm nhân tố về cung cấp và tiêu thụ, nhóm
nhân tố về tổ chức thanh toán.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, do có chức năng sản xuất nên đòi hỏi
phải có nhiều máy móc thiết bị có qui trình công nghệ cao, do đó tài sản cố định
của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản lu động. Ngợc lại, trong các
doanh nghiệp thơng mại có chức năng lu thông thì tài sản lu động nhiều hơn tài
sản cố định vì doanh nghiệp có nhiều hàng hoá để đảm bảo cho quá trình lu thông
thờng xuyên liên tục nên vốn lu động chiếm tỷ trọng lớn hơn.
4. Vai trò của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp
Qua việc xem xét khái niệm và các cách phân loại về vốn, ta có thể thấy
vốn là tiền đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Phải có một lợng tiền nhất
định cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu t của mình.
13
Chuyên đề thực tập Nguyễn Văn Biện Lớp CN 40B
Thứ nhất, vốn là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho sự ra đời của doanh
nghiệp. Bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải có một lợng vốn nhất định để
trang trải các chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản
xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết và phải bảo đảm một lợng vốn
tối thiểu theo qui định của pháp luật phù hợp với ngành nghề kinh doanh. Nếu
thiếu vốn thì không thể đảm bảo cho sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, vốn là cơ sở để các doanh nghiệp duy trì và phát triển bình thờng
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đó là các khoản chi nh: chi mua nguyên
vật liệu phục vụ sản xuất, chi trả tiền lơng cho công nhân, chi phục vụ tiêu thụ sản
phẩm. Doanh nghiệp phải làm ăn có lãi thì mới bảo toàn và phát triển đợc vốn,
thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển cả bề rộng và bề sâu.
Thứ ba, vốn là yếu tố quyết định mức độ trang bị kĩ thuật, đổi mới qui trình
công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, ứng dụng các thành tựu mới của
khoa học kĩ thuật vào sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công của doanh nghiệp. Nh vậy, vốn đợc đa vào sản xuất kinh
doanh và đợc thể hiện ở nhiều hình thái vật chất khác nhau. Sau quá trình chuyển
hoá sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ và đợc tiêu thụ trên thị trờng, các
hình thái vật chất khác sau đó sẽ đợc chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu với
tên gọi doanh thu. Mỗi một quá trình chuyển hoá trên đợc xem là có lãi nếu nh
số d cuối kì so với số d đầu kì tạo ra giá trị thặng d, nghĩa là số tiền thu đợc do
tiêu thụ hàng hoá dịch vụ phải bảo đảm bù đắp toàn bộ chi phí bỏ ra và còn d một
phần là lãi. Nh vậy, số tiền bỏ ra ban đầu không chỉ đợc bảo tồn mà còn đợc
tăng thêm do hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại. Điều này khẳng định lại
một lần nữa vốn chính là giá trị mang giá trị thặng d. Việc nghiên cứu mối quan
hệ dùng và dự trữ giúp chúng ta làm rõ hơn tầm quan trọng của vốn khi mà trong
một nền kinh tế, mọi hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các doanh
nghiệp đều đợc thực hiện thông qua trung gian tiền tệ.Tơng ứng với dòng vật chất
đi vào, dòng tiền tệ đi ra và ngợc lại.
Trong những nền kinh tế khác nhau, tầm quan trọng của vốn cũng đợc thể
hiện ở những mức độ khác nhau. Dới thời bao cấp, các xí nghiệp quốc doanh đều
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét