Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
Ngoài ra văn phòng đại diện còn có nhiệm vụ phát triển kinh doanh, tìm khách
hàng mới.
- Ngân hàng liên doanh: là định chế tài chính độc lập với ngân hàng mẹ
hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Đây là
hình thức ngân hàng góp vốn để kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật nước
sở tại. Hình thức này chủ yếu được áp dụng nhiều trong điều kiện
Respectfully,thị trường tài chính nước sở tại mới phát triển, khó khăn thâm nhập
hoặc khi một ngân hàng mới gia nhập thị trường nước ngoài cảm thấy lo ngại về
vấn đề rủi ro, thiếu hiểu biết về khách hàng hoặc muốn cung cấp các dịch vụ
không được phép của Ngân hàng trung ương nước ngoài.
- Ngân hàng con ở nước ngoài: Đây cũng là một định chế tài chính độc
lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn để phù hợp với luật nước ngoài. Ngân
hàng con cũng hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh. Ngân hàng con ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp
nước ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
- Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài: Đây là hình thức tổ chức phổ biến
nhất đối với phần lớn các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế. Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài là một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trong
nước và chịu sự chỉ đạo của trụ sở chính, không phân tách về mặt pháp lý với
ngân hàng mẹ. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hàng loạt nghiệp vụ
ngân hàng tại nước chủ nhà trong khuôn khổ pháp luật và điều kiện kinh doanh
tại nước chủ nhà. Như vậy, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa chịu sự điều
chỉnh của luật ngân hàng trong nước, vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng
nước ngoài mà nó mở chi nhánh.
- Dạng tiêu biểu hơn cả là tổ chức bộ phận kinh doanh quốc tế chuyên biệt
ngay tại trụ sở chính của ngân hàng mà vẫn đạt được các mục đích phục vụ
khách hàng như các hình thức khác. Để thực hiện được việc phục vụ tốt khách
hàng bộ phân kinh doanh quốc tế chuyên biệt này phải được trang bị các thiết bị
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
hiện đại, các máy tính nối mạng toàn cầu, các máy điện toán để có thể quản lý
hệ thống tài khoản phi nội địa của một ngân hàng.
1.2. NHỮNG NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CHỦ YẾU CỦA CÁC NHTM.
1.2.1. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
1.2.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát
sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu
dịch giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, giữa
một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các
Ngân hàng của các nước có liên quan.
Xét về mặt kinh tế thanh toán quốc tế bao gồm hai lĩnh vực:
+ Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh trên cơ sở hàng
hoá dịch vụ thương mại kết hợp xuất nhập khẩu dựa trên giá quốc tế. Trong
thanh toán mậu dịch, các bên có liên quan sẽ bị ràng buộc với nhau theo các hợp
đồng đã kí kết hoặc cam kết thương mại. Nếu hai bên không kí kết hợp đồng chỉ
có đơn đặt hàng thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch.
+ Thanh toán phi mậu dịch: là thanh toán phát sinh không liên quan đến
hàng hoá, không mang tính chất thương mại. Đó là thanh toán các chi phí của cơ
quan ngoại giao ở nước sở tại, các chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn
khách, chính phủ, các tổ chức, cá nhân.
1.2.1.2. Các phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế.
a. Hối phiếu (Bill of Exchange): là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều
kiện do một người kí phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhận
được nó phải trả tiền ngay hoặc thanh toán vào một ngày xác định trong tương
lai một số tiền nhất định cho người được chỉ định. Hối phiếu có nhiều loại khác
nhau, tuỳ theo các căn cứ khác nhau mà ta có thể chia Hối phiếu thành các loại
khác nhau. Ví dụ căn cứ vào thời hạn của Hối phiếu ta có hai loại hối phiếu : hối
phiếu trả tiền ngay và hối phiếu có kỳ hạn, còn nếu căn cứ vào tính chất chuyển
nhượng của hối phiếu ta có: hối phiếu đích danh và hối phiếu vô danh
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
b. Lệnh phiếu (Promissory note): là một tờ cam kết vô điều kiện, trong
đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định
cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người
hưởng lợi trả cho người khác. Một tờ lệnh phiếu thường gồm có các nội dung
sau: có tiêu đề “lệnh phiếu” được diễn đạt bằng ngôn ngữ để thiết lập lệnh
phiếu, có ngày phát hành lệnh phiếu, chữ ký của người lập lệnh phiếu, lời hứa
trả tiền vô điều kiện, số tiền phải trả
c. Séc: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản tiền gửi
ra lệnh cho ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản của mình ở ngân
hàng để trả cho người có tên trên tờ séc, hoặc theo lệnh của người ấy, hoặc trả
cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau người ta chia séc thành các loại khác
nhau như sau:
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của séc, chúng ta có thể chia séc
thành các loại sau:
+ Séc vô danh: là séc không chỉ rõ tên người hưởng lợi số tiền được ghi
trên séc.
+ Séc đích danh: là séc ghi đích danh tên người hưởng lợi số tiền được ghi
trên tờ séc.
+ Séc theo lệnh: là séc chi trả theo lệnh của người có tên trên tờ séc.
Căn cứ vào hình thức thanh toán của ngân hàng, séc được chia thành các
loại sau:
+ Séc chuyển khoản: là loại séc để trích tiền từ tài khoản này sang tài
khoản khác, không được dùng để rút tiền mặt.
+ Séc tiền mặt: là loại séc dùng để rút tiền mặt ra khỏi tài khoản.
Căn cứ vào tính chất đảm bảo của tờ séc, séc có các loại sau đây:
+ Séc xác nhận: là loại séc được ngân hàng đứng ra trả tiền cho người
hưởng lợi. Số tiền ngân hàng xác nhận sẽ bị phong toả.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
Ngoài các loại séc kể trên còn có các loại séc khác như: Séc gạch chéo,
séc du lịch
d. Thẻ thanh toán (Payment car): là một phương tiện thanh toán hiện đại
do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình để sử dụng thanh toán
tiền hàng, dịch vụ đã cung ứng. Nó là phương tiện chủ yếu phục vụ thanh toán
cá nhân hay thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng trên thế giới, có thể
dùng thẻ thanh toán để thay cho việc luân chuyển một phần tiền mặt từ nơi này
sang nơi khác ở trong nước và ngoài nước. Thẻ này cũng có thể rút tiền tự động
ở các máy rút tiền tự động - ATM (automatic teller machine).
1.2.1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu.
Trong quan hệ thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán có một vị trí
rất quan trọng. Quan hệ thanh toán quốc chỉ có thể được thực hiện thông qua các
phương thức thanh toán. Phương thức thanh toán là phương pháp, cách thức tiến
hành nghiệp vụ nhất định, thông qua đó người nhập khẩu trả tiền, nhận hàng và
người xuất khẩu giao hàng, nhận tiền.
Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau, sau đây là một số
phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu đang được sử dụng trong thương mại
quốc tế.
a, Phương thức thanh toán bằng chuyển tiền (Remittance).
Chuyển tiền là một phương thức trong đó khách hàng (người trả tiền -
người nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định
cho người khác (người hưởng lợi - người xuất khẩu) ở một địa điểm nhất định
bằng hình thức chuyển tiền do khách hàng yêu cầu, hoặc bằng điện - Telegrahic
Transfer (TT), hoặc bằng thư - Mail Tranfer (MT), hoặc chuyển tiền qua hệ
thống Swift (được sử dụng phổ biến nhất hiện nay). Ngân hàng chuyển tiền
thường phải thông qua đại lý, hoặc chi nhánh của mình ở nước người hưởng lợi
để thực hiện việc chuyển tiền.
Các bên tham gia vào nghiệp vụ chuyển tiền gồm có: người chuyển tiền
(Remitter) là người nhập khẩu; người thụ hưởng (Beneficiary) là người xuất
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
khẩu; ngân hàng trả tiền (Paying bank) là ngân hàng bên người xuất khẩu; ngân
hàng uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank) thường là ngân hàng phục vụ
người nhập khẩu.
SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN.
(1) Giao dịch thương mại.
(2) Người nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hoá (hoặc bộ chứng từ hàng hoá)
phù hợp với thoả thuận của hai bên thì viết lệnh chuyển tiền và gửi đến ngân
hàng phục vụ mình yêu cầu chuyển tiền trả cho nhà xuất khẩu.
(3) Ngân hàng chuyển tiền làm thủ tục chuyển tiền thông qua ngân hàng đại lý.
(4) Ngân hàng đại lý (ngân hàng trả tiền) thanh toán tiền cho người thụ hưởng.
Phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức mà ngân hàng chỉ là
trung gian đơn thuần thực hiện việc chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng để
thu phí, do đó ngân hàng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với việc trả tiền
của người nhập khẩu cho người xuất khẩu. Việc trả tiền hoàn toàn phụ thuộc vào
thiện chí và khả năng của người nhập khẩu, vì vậy quyền lợi của người xuất
khẩu không được bảo đảm.
Trong quan hệ mua bán ngoại thương, phương thức thanh toán chuyển
tiền chỉ được lựa chọn khi các khoản thanh toán có giá trị nhỏ, hoặc trong
trường hợp mối quan hệ giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu là tin cậy nhau.
b, Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of Payment).
Nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì uỷ thác
Ngân hàng
chuyển tiền
Người chuyển
tiền
Ngân hàng
trả tiền
Người thụ
hưởng
(3)
(2) (4)
(1)
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối
phiếu do mình lập ra. Cơ sở pháp lí quốc tế của nghiệp vụ này là quy tắc thống
nhất về nhờ thu bản sửa đổi vào năm 1995, gọi là URC 522, có hiệu lực thi hành
từ ngày 1/1/1996. Nhờ thu có hai loại là nhờ thu phiếu trơn (Clean collection) và
nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection).
+ Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân
hàng thu hộ số tiền từ người mua, chỉ căn cứ vào hối phiếu do người bán ký
phát, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua, không qua ngân hàng.
Phương thức này không được phổ biến trong thực tế do có nhiều rủi ro cho
người bán và cũng gây bất lợi cho người mua trong trường hợp hối phiếu đến
sớm hơn chứng từ.
+ Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho
ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn
căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo với yêu cầu là ngân hàng chỉ trao
bộ chứng từ hàng hoá cho người mua để đi nhận hàng khi họ đã thanh toán tiền
(Nếu phương thức thanh toán là thị trường đổi lấy chứng từ-Documentary
against payment-D/P), hoặc đã ký chấp nhận thanh toán (Nếu phương thức
thanh toán là chấp nhận hối phiếu đổi lấy bộ chứng từ - Documentary against
Acceptance-D/A).
Các bên tham gia phương thức thanh toán nhờ thu gồm có: Người xuất
khẩu - Drawer (or Remittance); Người nhập khẩu - Drawee; Ngân hàng chuyển
chứng từ - Remitting bank; Ngân hàng thu hộ - Collecting bank.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
SƠ ĐỒ 2: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN NHỜ THU
TRƠN.
(1) Người xuất khẩu chuyển giao hàng hoá, đồng thời cũng chuyển giao
chứng từ hàng hoá sang người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu lập hối phiếu và giấy nhờ thu, gửi tới ngân hàng phục
vụ mình nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu sang ngân hàng
phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu tiền.
(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển hối phiếu đòi tiền tới người
nhập khẩu.
(5) Người nhập khẩu thanh toán tiền (hoặc ký chấp nhận hối phiếu).
(6) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tiền thu được (hoặc hối
phiếu đã ký chấp nhận) sang ngân hàng phục vụ người xuất khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu thanh toán (hoặc chuyển hối phiếu
đã ký chấp nhận) cho người xuất khẩu.
Ngân hàng chuyển
chứng từ
Ngân hàng
thu tiền
Người xuất khẩu Người nhập khẩu
(1)
HĐ
(2) (7)
(3)
(6)
(4)
(5)
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
SƠ ĐỒ 3: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN NHỜ THU KÈM
CHỨNG TỪ.
(1) Căn cứ vào hợp đồng người xuất khẩu giao hàng hoá cho nhà nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu lập toàn bộ chứng từ hàng hoá theo yêu cầu của hợp đồng
thương mại cùng hối phiếu trả ngay ( nếu là thanh toán theo D/P) hay hối phiếu
kỳ hạn (nếu là thanh toán theo D/A) gửi tới ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ
tiền ở người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm uỷ thác thu, bộ
chứng từ thanh toán cho ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu ở nước ngoài để thu
tiền người nhập khẩu.
(4) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu thông báo đã nhận được hối phiếu cho
nhà nhập khẩu và đề nghị thanh toán.
(5) Nhà nhập khẩu trả ngay tiền đối với hối phiếu trả tiền ngay, ký chấp
nhận thanh toán đối với hối phiếu trả chậm gửi cho ngân hàng phục vụ mình.
(5’) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu trao bộ chứng từ cho nhà nhập
khẩu để đi nhận hàng.
(6) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được
chấp nhận thanh toán cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển tiền hoặc hối phiếu đã được
chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu.
c, Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit).
Ngân hàng chuyển
chứng từ
Ngân hàng
thu tiền
Người xuất
khẩu
Người nhập
khẩu
(1)
HĐ
(2)(7)
(3)
(6)
(4) (5) (5’)
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
Đây là phương thức thanh toán được dùng phổ biến nhất trong thanh toán
quốc tế, vì phương thức này có ưu điểm hơn hai phương thức thanh toán trên là:
Phương thức này đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên (nhà xuất
khẩu và nhà nhập khẩu) trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như trong
thanh toán tiền hàng.
Theo điều 2, UCP 500 thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là
một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư tín dụng)
hành động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu mở thư
tín dụng) hoặc nhân danh chính mình phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của
người thứ ba (người thụ hưởng), hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do
người thụ hưởng ký phát hoặc uỷ quyền cho ngân hàng khác thực hiện việc trả
tiền như vậy hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu đó hoặc uỷ quyền cho một ngân
hàng khác chiết khấu khi chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện chúng
phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng đã được mở.
Ta có thể hiểu một cách đơn giản phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ là phương thức thanh toán dựa vào cam kết thanh toán có điều kiện của ngân
hàng phát hành. Cam kết thanh toán có điều kiện này chính là thư tín dụng -
Letter of Credit (ký hiệu là L/C).
L/C là bất kì sự thoả thuận nào của Ngân hàng phát hành mà theo đó
Ngân hàng phát hành sẽ trả ngay hoặc đến một thời điểm trong tương lai sẽ trả
một số tiền nhất định cho người hưởng lợi với điều kiện người hưởng lợi phải
xuất trình một bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản
của L/C.
Có thể nói thư tín dụng là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ. Do đó, nếu thư tín dung hết hạn hiệu lực thì
phương thức tín dụng chứng từ sẽ không còn ý nghĩa. Thư tín dụng là văn bản
cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ
thanh toán theo điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương cho nên nó
được soạn thảo dựa trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng nó độc lập với hợp
Website:
http://www.docs.vn
Email :
lienhe@docs.vn
Tel : 0918.775.368
đồng. Tính chất độc lập thể hiện ở chỗ: Ngân hàng mở thư tín dùng không cần
biết đến hợp đồng mà chỉ căn cứ vào đơn yêu cầu mở thư tín dụng của nhà nhập
khẩu để mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng.
Thư tín dụng có nhiều loại khác nhau căn cứ các tiêu thức phân chia khác
nhau nhưng chỉ có một số loại thư tín dụng phổ biến thường sử dụng là L/C có
thể huỷ ngang, L/C không thể huỷ ngang, L/C không huỷ ngang có xác nhận,
L/C giáp lưng, L/C dự phòng
Các chủ thể tham gia phương thức tín dụng chứng từ gồm: Người yêu cầu
mở L/C (Applicant); Người nhập khẩu hay người thụ hưởng (Beneficiary); Ngân
hàng mở L/C (Issuing bank); Ngân hàng thông báo L/C (Advising bank); Ngân
hàng trả tiền; Ngân hàng hoàn trả; Ngân hàng xác nhận; Ngân hàng chiết khấu
chứng từ.
SƠ ĐỒ 4: QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ.
(1) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, viết đơn đề nghị mở
tín dụng thư cho người xuất khẩu hưởng, gởi tới ngân hàng phục vụ
mình.
(2) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng,
nếu đáp ứng các yêu cầu, ngân hàng sẽ phát hành thư tín dụng và thông
qua ngân hàng đại lý để thông báo tới người thụ hưởng (người xuất
khẩu).
(3) Ngân hàng thông báo khi nhận được thư tín dụng sẽ khẩn trương thông
báo, chuyển giao thư tín dụng này cho nhà xuất khẩu.
(7)
Ngân hàng phát hành
(Issuing Bank)
Ngân hàng thông
báo
(Advising Bank)
Người nhập khẩu
(Applicant)
Người xuất khẩu
(Beneficiary)
(1)
(2)
(3)
(4)
HĐTM
(5) (6)
(8)
(9)(10)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét