Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường THCS Cà Mau




học tập của HS, quản lý việc sử dụng các phương tiện DH, quản lý công tác bồi dưỡng
nâng cao trình độ của GV …
Nếu nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở
trường THCS và đưa ra những giải pháp hợp lý sẽ tạo ra sự chuyển biến mạnh mẻ trong
việc nâng cao chất lượng GD của cả nước nói chung và chất lượng GD trong tỉnh Cà
Mau nói riêng.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích tổng hợp các tài liệu lý luận
Thu
thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu các đặc trưng, tính chất của vấn đề nghiên
cứu. Sưu tầm và đọc các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu, nghị quyết, văn bản… liên quan
đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
Căn cứ vào các tài liệu, các báo cáo tổng kết năm học của các trường THCS,
Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục và Đào tạo Cà M
au, các số liệu để nhận định, đánh giá
về thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở trường THCS, tìm ra nguyên nhân
và đề ra các giải pháp.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu
Để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của GV, chúng tôi đã
tiến hành điều tra bằng phiếu, tham khảo ý kiến của 485 CBQL trường THCS, phòng
giáo dục và GV của 09 trường THCS trong tỉnh Cà Mau với những nội dung có liên

quan đến các vấn đề: quản lý việc nhận thức của GV và CBQL về mục tiêu và chương
trình giảng dạy; quản lý đội ngũ GV, quản lý việc sử dụng các phương tiện DH; quản lý
công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS và quản lý công tác bồi dưỡng nâng
cao trình độ của GV.
Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi với 15 câu hỏi xung quanh những vấn đề trên ch
o
hai đối tượng: CBQL và GV THCS nhằm thu thập số liệu đánh giá thực trạng việc quản
lý hoạt động giảng dạy.
7.3. Phương pháp quan sát



Phương pháp này thực hiện bằng cách tiếp cận và xem xét để thu thập dữ liệu
thực tế về công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại một số trường THCS được tiến hành
khảo sát. Nhằm tìm hiểu về thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy.
7.4. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trò chuyện với cán bộ chuyên môn các phòng Giáo dục, hiệu trưởng,
phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên m
ôn ở một số trường THCS tỉnh Cà Mau để nắm bắt
thêm tình hình thực tế của các trường; tham khảo ý kiến các chuyên gia với mục đích
tìm các kết luận thỏa đáng trong việc đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động
giảng dạy và đề xuất những giải pháp cho việc quản lý hoạt động giảng dạy ở trường
THCS có hiệu quả. Với những nội dung có liên quan đến việc quản lý hoạt động giảng
dạy ở trường THCS như: quản lý việc nhận thức của GV và CBQL về mục tiêu và
chương trình giảng dạy, quản lý đội ngũ GV, quản lý việc sử dụng phương tiện DH,
quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS và quản lý việc bồi dưỡng
nâng cao trình độ của GV.

7.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Dùng toán thống kê để xử lý số liệu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, định
lượng chính xác cho từng nội dung, nâng cao tính thuyết phục của các số liệu được nêu
ra trong luận văn với cách tính:
- Tính tỷ lệ %.
- Tính độ trung bình theo công thức:
X
=
n
1
. Với hình thức chấm điểm từ 1
- 3 cho các mức độ thực hiện từ thấp đến cao (Yếu, trung bình, tốt). Từ đó rút ra những
nhận xét phù hợp theo từng mức độ trung bình đạt được.


n
i
nixi
1

8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm n
hững phần sau:
- Phần mở đầu: Khái quát về đề tài.
- Phần kết quả nghiên cứu gồm có ba chương:



Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường THCS
tỉnh Cà Mau.
Chương 3: Đề xuất những giải pháp cho việc quản lý hoạt động giảng dạy ở
trường THCS tỉnh Cà Mau.
- Phần kết luận và kiến nghị


















KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

DH và quản lý DH được hình thành và phát triển cùng với lịch sử hình thành và
phát triển các hình thái kinh tế xã hội. Lúc đầu, cơ sở lý luận về DH chỉ thể hiện dưới
dạng một số ý tưởng của những nhà triết học (đồng thời cũng là nhà GD) sau đó dần dần
phát triển và hoàn thiện hơn. Tuy nhiên gần đây người ta mới chú ý, bàn luận về quản lý
nói chung và quản lý hoạt động DH nói riêng; nhưng hầu hết các ý tưởng và các công
trình nghi
ên cứu về quản lý GD (trong đó có quản lý DH) đã được công bố đều nhằm
mục đích nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động này. Chúng tôi xin được trình bày
tổng quan một số vấn đề chủ yếu về DH và quản lý hoạt động DH:
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề DH đã được nhiều nhà triết học đồng thời là nhà GD ở
cả phương Tây và phương Đông đề cập đến. Có thể kể đến
các tư tưởng và các công
trình nghiên cứu chủ yếu sau:
- Platon (427-347 trước công nguyên) ông đã khẳng định được vai trò tất yếu của
GD trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với GD, phần nào nói lên tầm quan
trọng của thể chế xã hội đối với GD nói chung và DH nói riêng.
- Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) với quan điểm DH là: “Dùng cách
gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải
tích cực s
uy nghĩ…Đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nền nếp, thói quen
học tập” và “ học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông muốn
mang lại hiệu quả DH phải đề cao đến các quy định về nề nếp DH, nâng cao trình độ của
người dạy để lựa chọn được những phương pháp DH theo hướng đề cao
năng lực tự học,
phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học.
- Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề DH và quản lý hoạt động DH được nhiều nhà GD
quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: Cômenxki (1592-1670), ông đã đưa ra quan
điểm GD phải thích ứng với tự nhiên, theo ông quá trình DH để truyền thụ và tiếp nhận
tri thức là phải dựa v
ào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết,



không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông
đã nêu ra một số nguyên tắc DH có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát
huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố
kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); DH phải thiết
thực và DH theo nguyên tắc cá biệt…
- Vào thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX ở phương Tây có nhiều nhà nghiê
n cứu về
quản lý tiêu biểu như: Robet Owen (1717-1858), Chales Babbage (1792-1871), F.Taylor
(1856-1915), H.Fayob (1841-1925)…
- Đến khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khoa học GD thực sự có sự biến
đổi về lượng và chất. Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa
Mác – Lê-nin đã định hướng cho hoạt động GD là các quy luật về “Sự hình thành cá
nhân con người” về “ tính quy luật về kinh tế - xã hội đối với giáo dục…”. Các q
uy luật
đó đặt ra những yêu cầu đối với quản lý GD và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra
các phương tiện và điều kiện cần thiết cho GD.
Ở Việt Nam khoa học quản lý tuy được nghiên cứu muộn nhưng tư tưởng về quản
lý như: “trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Điều đó đã được thể hiện trong các tác p
hẩm
của những nhà chính trị, quân sự, nhà giáo, nhà thơ lỗi lạc dưới thời phong kiến như: Lý
Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trước hết phải nói đến quan điểm
phát triển GD của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969). Bằng việc kế thừa những tinh
hoa của các tư tưởng
GD tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về: vai trò của GD,
định hướng phát triển GD, mục đích, các nguyên lý, các phương thức DH, vai trò của
quản lý và CBQL GD, phương pháp lãnh đạo và quản lý… Phải khẳng định rằng: hệ
thống các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD có giá trị cao trong quá trì
nh phát
triển lý luận DH, lý luận GD của nền GD cách mạng Việt Nam.
Gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên
cứu, các nhà khoa học… viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh



nghiệm… đã được công bố, các tác giả: Nguyễn Đình Am, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn
Chân, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Bá Dương, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý… các
công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học
quản lý như: Khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, các thành phần cấu trúc
quản lý… đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Tuy nhiên, những
thành tựu đó cũng chỉ dừng lại ở mức độ lý luận là chủ yếu.
Đối với khoa học quản lý GD, quản lý nhà trường có nhiều tác giả quan tâm
, vận
dụng những thành tựu về lý luận khoa học quản lý nói chung và đã đưa ra nhiều vần đề
lý luận về quản lý GD, các giải pháp, kinh nghiệm quản lý GD xuất phát từ thực tiễn của
GD Việt Nam tiêu biểu là các tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo, Đặng Quốc Bảo, Đặng Vũ
Hoạt, Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lân, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cảnh
Toàn…
Các thành
quả nghiên cứu nêu trên của các nhà khoa học là những tri thức làm
tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý GD, quản lý hoạt động giảng
dạy trong các trường học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GD, phục vụ cho mục
tiêu phát triển triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.2. Những vấn đề lý luận có liên quan
1.2.1. Khái niệm quản lý
1.2.1.1. Các k
hái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm cùng lúc với con người, là một
phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi
quốc gia, trong mọi thời đại. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa người và người.
Có nhiều quan niệm khác về quản lý tùy quan điểm, tùy góc độ nghiên cứu. Sau đây là
một số quan niệm t
iêu biểu:
- Theo quan điểm điều khiển học: quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ
chức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nó bảo toàn cấu trúc hệ, duy
trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy l
uật khách quan, làm cho hệ vận
động vận hành phát triển.



- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì: quản lý là “phương thức tác động có
chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về
hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính hợp lý của cơ
cấu và đưa hệ thống sớm đạt mục tiêu.
- Theo lý thuyết thông tin: quản lý là sự điều hành “thông tin, xử lý, ra quyết
định…”, phối hợp “t
rong hệ thống, ngoài hệ thống” nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra cho
đối tượng quản lý.
- Theo lý thuyết hành vi: “quản lý là hoàn thành công việc thông qua con người”.
- Theo F.Taylor: “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm
và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.”
- Theo Mác: tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên qui
mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những
hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những
khí quan độc lập của nó.
Như vậy, Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một
hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài n
gười.
- Theo Koontz và O’Donnell trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”
thì cho rằng: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là
công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một
nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc
với nhau trong các nhóm
có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”
[Harold Koontz - Cyril Odonnell 15, tr.19].
- Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang trong “Những khái niệm cơ bản về lý luận
quản lý GD” thì cho rằng “ Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được
những mục tiêu dự kiến.” [Nguyễn Ngọc Quang 31, tr. 14].
- Theo GS. Đặng Vũ Hoạt và GS. Hà Thế Ngữ thì cho rằng:
“quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến



hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặt trưng cho trạng
thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt 30,
tr 17].
- Theo PGS.TS Trần Kiểm: cho rằng “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều
người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [Trần
Kiểm 21, tr 45].
- GS. Nguyễn Văn Lê trong t
ác phẩm: “Khoa học quản lý nhà trường” đã định
nghĩa: “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó
mà chủ yếu là vào những con người, nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra.
[Nguyễn Văn Lê 24, tr 5].
Trên đây là những quan niệm khác nhau về quản lý. Tuy có cách tiếp cận và diễn
đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm
những ý
nghĩa chung, đó là:
+ Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua
những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
+ Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
+ Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm
người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là
một nhà nước.
+ Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có mục tiêu của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu
quả, tối ưu các nguồn lực của hệ thống như “nhân lực - vật lực - tài lực” và các cơ hội
mà hệ thống có được để đạt được các mục tiêu đặt
ra trong điều kiện biến động của môi
trường.
Như vậy, theo chúng tôi khái niệm quản lý có thể được hiểu: quản lý là một quá
trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được
mục tiêu chung.
1.2.1.2. Chức năng quản lý



Chức năng quản lý là một hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác
động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Chức năng quản lý
chiếm giữ vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp.
Quản lý có 4 chức năng:
- Chức năng lập kế hoạch:
Là chức năng trung tâm
, kế hoạch được hiểu khái quát là một bảng ghi nhận
những mục tiêu cơ bản, là một chương trình hành động cụ thể được hoạch định trước khi
tiến hành thực hiện những nội dung nào đó mà chủ để quản lý đã đề ra.
- Chức năng tổ chức:
Tổ chức là sắp sếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người,
những dạng hoạt động thành một hệ to
àn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với
nhau một cách tối ưu.
- Chức năng chỉ đạo:
Là huy động lực lượng để thực hiện kế hoạch, là biến những mục tiêu trong dự
kiến thành kết quả hiện thực. Phải giám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của
hệ đúng tiến trình, đúng kế hoạch. Khi cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng
không làm thay đổi mục tiêu hướng vận hành của hệ nhằm g
iữ vững mục tiêu chiến lược
đề ra.
- Chức năng kiểm tra đánh giá:
Nhiệm vụ của kiểm tra nhằm đánh giá trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến
ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt tới mức độ nào.
Kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm
ra
nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ta những bài học kinh
nghiệm.
Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra là giữ vai trò liên hệ nghịch, là trái tim mạch
máu của hoạt động quản lý. Có kiểm tra mà không đánh giá coi như không có kiểm tra,
không có kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý.




SƠ ĐỒ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ







Lập kế hoạch
Tổ chức Kiểm tra
Chỉ đạo
Thông tin

1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý
Trong việc quản lý các tổ chức (Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, GD ) mà yếu tố chủ
yếu là con người, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý thường vận dụng các nguyên tắc
sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng:
Đảng cộng sản Việt Nam
là Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối vì thế trong quản
lý chúng ta phải thường xuyên bám sát vào các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các chủ
trương, chính sách và Pháp luật của Đảng và Nhà nước.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc q
uan trọng đảm bảo sự thành công trong công tác quản lý. Tạo
khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với
sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý.
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập
trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch chủ trương đường lối
phương hướng mục ti
êu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện. Nguyên
tắc tập trung được thông qua chế độ thủ trưởng.
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên
trong tổ chức. Huy động trí
lực của họ, dân chủ được thể hiện ở chỗ các chỉ tiêu kế

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét