Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tài liệu Thông tư hướng dẫn thực hiện việc phân cấp docx

+ Vốn đầu tư thuộc ngân sách cấp huyện và xã được phân cấp cho cơ quan tài chính
và Kho bạc bạc Nhà nước quản lý thực hiện.
- Nguồn vốn huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng phải được quản lý chặt chẽ. Kết quả huy động và việc sử dụng
nguồn huy động phải được quản lý công khai, có kiểm tra, kiểm soát và đảm bảo sử
dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
1.6. Chi thường xuyên về sự nghiệp giáo dục, y tế là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp
tỉnh (trừ phần phân cấp cho xã), nhưng để quản lý có hiệu quả các sự nghiệp này, việc
quản lý và cấp phát kinh phí thực hiện như sau:
Hàng năm Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính
- Vật giá lập dự toán và dự kiến phân bổ dự toán ngân sách toàn ngành trình Uỷ ban
nhân dân tỉnh để Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân phê duyệt. Sau khi dự
toán ngân sách đã được duyệt, việc cấp phát kinh phí được tiến hành:
+ Đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc các Sở quản lý, Sở Tài chính - Vật giá cấp
qua các Sở hoặc cấp phát trực tiếp cho các đơn vị theo quyết định của Uỷ ban nhân
dân tỉnh.
+ Đối với các cơ quan đơn vị thuộc cấp huyện quản lý, Sở Tài chính - Vật giá cấp
phát kinh phí uỷ quyền cho quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
huyện).
Đối với các tỉnh chưa chuyển kịp hình thức cấp phát kinh phí cho sự nghiệp giáo dục,
y tế như trên thì trước mắt có thể cấp phát kinh phí theo hình thức đang áp dụng
nhưng phải chuNn bị mọi điều kiện để chuyển sang hình thức cấp phát kinh phí uỷ
quyền và tiến tới thực hiện cấp phát, thanh toán trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước.
2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp trong năm đầu
của thời kỳ ổn định:
2.1- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách Trung ương với
ngân sách từng tỉnh do Chính phủ quyết định.
Tỷ lệ này được áp dụng chung đối với tất cả các khoản thu được phân chia và được
xác định riêng cho từng tỉnh.
- Các khoản thu được phân chia gồm:
+ Thuế doanh thu, trừ thuế doanh thu thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Thuế lợi tức, trừ thuế lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế lợi tức thu
từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
+ Thu
ế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn
đầu tư tại Việt Nam;
+ Thuế tài nguyên;
+ Thu sử dụng vốn ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước.
- Việc xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia thực hiện như sau:
Gọi:
+ Tổng số chi các cấp chính quyền địa phương (không bao gồm số bổ sung) là A
+ Tổng số các khoản thu ngân sách các cấp chính quyền địa phương hưởng 100%
(không kể số bổ sung) là B
+ Tổng số các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách các cấp
chính quyền địa phương được hưởng là C.
Tổng số các khoản thu được phân chia giữa ngân sách Trung ương với ngân sách tỉnh
là D
Nếu A - (B + C) < D thì tỷ lệ (%) phân chia được tính theo công thức:
A - (B + C)
Tỷ lệ
phần trăm (%)
=
-
x 100%
D
Nếu A - (B + C) > D thì tỷ lệ phần trăm chỉ được tính bằng 100% và phần chênh lệch
sẽ thực hiện cơ chế cấp bổ sung.
Nếu A - (B + C) = D thì tỷ lệ phần trăm là 100% và tỉnh tự cân đối.
2.2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền
địa phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định:
Các khoản thu được phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
- Thuế nhà, đất;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Tiền sử dụng đất.
Khi xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp và
chính quyền địa phương cần tuân thủ nguyên tắc:
- B
ảo đảm tổng mức phân chia cho ngân sách cấp mình và ngân sách các cấp dưới
không được vượt quá mức quy định của cấp trên về các khoản thu được phân chia.
- Chú trọng khả năng đáp ứng nhu cầu chi tại chỗ, khuyến khích khai thác thu và phải
phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng.
2.2.1. Trường hợp Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các
khoản thu cho từng huyện và ngân sách từng xã, thị trấn (gọi chung là xã) thì có thể
thực hiện theo trình tự và phương thức:
- Đối với cấp xã, về nguyên tắc phải trên cơ sở đặc điểm, điều kiện của từng xã để xác
định cho mỗi xã có tỷ lệ phân chia cụ thể cho phù hợp và phải thực hiện trước, làm cơ
sở xem xét đối với huyện. Trường hợp chưa có điều kiện quyết định tỷ lệ cụ thể cho
từng xã, thị trấn thì cũng có thể quy định một tỷ lệ để lại thống nhất chung cho các xã
thuộc tỉnh. Tỷ lệ này có thể phân chia theo loại hình xã đồng bằng, xã trung du, xã
miền núi hoặc phân theo loại huyện (huyện đồng bằng thì các xã thuộc huyện được
coi như xã đồng bằng, huyện miền núi thì các xã thuộc huyện được coi như xã miền
núi ). Trong 4 khoản thu phân chia, có thể xác định tỷ lệ chung cho cả 4 khoản hoặc
tỷ lệ riêng cho từng khoản.
- Đối với cấp huyện có thể phân ra:
+ Từng huyện được quy định một tỷ lệ riêng nhưng có thể được áp dụng một tỷ lệ
chung cho các khoản thu được phân chia hoặc theo vị trí từng khoản thu có thể áp
dụng mỗi khoản một tỷ lệ cho phù hợp.
+ Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ngoài các khoản thu phân chia nêu trên, còn
được phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) về thuế doanh thu, thuế lợi tức, lệ phí trước
bạ thu trên địa bàn. Tỷ lệ này được áp dụng chung đối với 3 khoản thu được phân chia
và có thể cùng hoặc khác với tỷ lệ phân chia về thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất hoặc mỗi khoản một tỷ lệ,
nhưng tối đa không được vượt quá tỷ lệ phần trăm (%) phân chia về thuế doanh thu,
thuế lợi tức Chính phủ giao cho tỉnh và tổng các khoản thu (các khoản thu 100% và
các khoản thu phân chia mà thị xã, thành phố thuộc tỉnh được hưởng) không được
vượt quá nhiệm vụ chi được giao.
2.2.2. Trường hợp Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân huyện quyết định
tỷ lệ phân chia cho từng xã:
Căn cứ tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách cấp tỉnh với
huyện, Uỷ ban nhân dân huyện quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản
thu giữa ngân sách huyện với ngân sách từng xã. Khi xác định tỷ lệ phần trăm (%)
phân chia về thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế nhà, đất; thuế chuyển quyền sử dụng
đất; tiền sử dụng đất phải bảo đảm tổng mức phân chia cho ngân sách cấp huyện và
cấp xã không được vượt quá mức quy định cho huyện về 4 khoản thu này.
Việc xác định tỷ lệ cụ thể cho từng xã hoặc nhóm xã được thực hiện theo quy định tại
điểm 2.2.1 của Thông tư này.
2.3. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền
địa phương được xác định trên cơ sở các khoản thu 100% (không bao gồm số bổ
sung) và d
ự toán chi.
3. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới bao gồm 2 loại:
- Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ ổn định
và số bổ sung tăng thêm hàng năm trong trường hợp có trượt giá.
- Số bổ sung theo mục tiêu.
3.1. Số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ ổn định chỉ tính cho các tỉnh, huyện, xã có
các nguồn thu được phân cấp không đảm bảo nhiệm vụ chi được giao và được xác
định trong năm đầu của thời kỳ ổn định cụ thể:
- Bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng tỉnh:



Mức
bổ
sung





=
Tổng số chi
của ngân
sách các cấp
chính quyền
địa phương
(không bao
gồm số bổ
sung)




-

Tổng số các
khoản thu
ngân sách các
cấp chính
quyền địa
phương được
hưởng 100%
(không bao
gồm số bổ
sung)




+
Tổng số các
khoản thu
phân chia
theo tỷ lệ
(%) giữa
ngân sách
các cấp
chính quyền
địa phương
được hưởng




+
Tổng số các
khoản thu
phân chia
theo tỷ lệ (%)
giữa ngân
sách trung
ương và ngân
sách tỉnh
được hưởng
mở rộng đến
100%

- Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách từng huyện:

Tổng số chi ngân

Tổng số các khoản Tổng số các khoản thu


Mức
bổ
sung

=
sách cấp huyện và
cấp xã thuộc địa
bàn huyện (không
bao gồm số bổ
sung)

-
thu ngân sách cấp
huyện và cấp được
hưởng 100%
(không bao gồm
số bổ sung)

+

ngân sách cấp huyện và
cấp xã được hưởng
theo tỷ lệ (%) phân chia
giữa ngân sách các cấp
chính quyền địa
phương

Riêng đối với các thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn phải trừ (-) thêm tổng số các khoản
thu ngân sách cấp thị xã, thành phố được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia
với ngân sách cấp tỉnh về lệ phí trước bạ, thuế doanh thu, thuế lợi tức thu trên địa bàn.
- Bổ sung từ ngân sách cấp huyện cho ngân sách từng xã, phường, thị trấn: Uỷ ban
nhân dân huyện trình Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định sau khi đã báo cáo Uỷ
ban nhân dân tỉnh phương án cân đối ngân sách xã, phường, thị trấn nhằm đảm bảo
cân đối chung.


Mức
bổ
sung


=
Tổng số
chi của
ngân
sách cấp



-
Tổng số các khoản
thu ngân sách cấp
xã được hưởng
100% (không bao
gồm số bổ sung)


+
Tổng số các khoản thu ngân
sách cấp xã được hưởng theo
tỷ lệ (%) phân chia giữa ngân
sách các cấp chính quyền địa
phương
3.2. Số bổ sung tăng thêm hàng năm trong trường hợp có trượt giá để cân đối ngân
sách:
Hàng năm, trong trường hợp có trượt giá, căn cứ vào số bổ sung cân đối năm trước
được giao, Chính phủ quyết định điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách từng tỉnh
theo một phần trượt giá. Mức bổ sung tăng thêm tuỳ thuộc vào khả năng ngân sách
Trung ương và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) thống nhất chung trên mức trượt
giá do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Căn cứ vào số bổ sung tăng thêm từ ngân sách Trung ương và tình hình cụ thể ở địa
phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách
từng huyện và Uỷ ban nhân dân huyện quyết định điều chỉnh tăng số bổ sung cho
ngân sách từng xã, phường, thị trấn theo một phần trượt giá.
Các tỉnh, các huyện, không được cấp trên điều chỉnh tăng số bổ sung theo một phần
trượt giá do năm trước không thuộc diện bổ sung, phải chủ động sử dụng ngân sách
c
ấp mình điều chỉnh tăng số bổ sung theo một phần trượt giá cho ngân sách cấp dưới.
3.3. Ngoài bổ sung cân đối ngân sách theo các điểm 3.1; 3.2 nêu trên, trong một số
trường hợp cụ thể còn có bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để
thực hiện một số mục tiêu nhất định như: Bổ sung để thực hiện các nhiệm vụ, dự án
được xác định, bổ sung vốn xây dựng cơ bản cho một số công trình quan trọng, bổ
sung để khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt, Đối với số bổ sung theo mục tiêu được
giao hàng năm tuỳ theo khả năng ngân sách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể ở
từng tỉnh, huyện, xã. Các cấp chính quyền, các đơn vị không được sử dụng phần kinh
phí trên vào các công việc khác ngoài mục tiêu đã được chỉ định.
4. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền
và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5
năm nên đối với các năm trong kỳ ổn định, các cấp chính quyền địa phương căn cứ
vào nguồn thu và nhiệm vụ chi được phân cấp, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các
khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên, chế độ thu, chế độ, tiêu chuNn, định
mức chi ngân sách và các yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội cụ thể của địa phương,
Uỷ ban nhân dân các cấp trình Hội đồng nhân dân cùng cấp dự toán thu, chi ngân
sách và chủ động quản lý, điều hành dự toán thu chi ngân sách đã được Hội đồng
nhân dân phê duyệt. Chỉ trong một số trường hợp có biến động lớn về thu chi ngân
sách mới điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu và số bổ sung từ ngân
sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
III. XÂY DỰNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HÀNG
NĂM
1. Công tác hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước và thông báo số kiểm tra dự
toán ngân sách nhà nước năm:
1.1. Căn cứ chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau, Bộ Tài chính ban hành
Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước
và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các Bộ, cơ quan Trung
ương và các tỉnh.
1.2. Các Bộ, cơ quan Trung ương, căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư
hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và căn cứ yêu cầu
nhiệm vụ cụ thể của Bộ, cơ quan, của ngành, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc và Uỷ
ban nhân dân các tỉnh lập dự toán ngân sách thuộc phạm vi quản lý và dự toán ngân
sách ngành; thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
1.3. Uỷ ban nhân dân cấp trên căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư
hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và hướng dẫn của các
Bộ, cơ quan Trung ương, căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu
và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, căn cứ khả năng cân đối ngân sách địa phương,
hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc
và Uỷ ban nhân dân cấp dưới lập dự toán thu, chi ngân sách địa phương.
1.4. Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp, khi thông báo số kiểm
tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp
d
ưới về cơ bản khi tổng hợp lại số thu không thấp hơn số kiểm tra về thu; số chi phải
phù hợp với tổng mức và cơ cấu; đối với ngân sách các cấp chính quyền địa phương,
số kiểm tra về dự toán ngân sách thông báo cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân
dân cấp dưới phải phù hợp với nguồn thu được hưởng và số kiểm tra cấp trên thông
báo.
1.5. ThNm quyền và nội dung thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách:
- Bộ Tài chính thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách, kể cả số kiểm tra dự toán chi
từ nguồn kinh phí uỷ quyền (nếu có), cho các Bộ, cơ quan Trung ương và Uỷ ban
nhân dân các tỉnh.
- Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp thông báo số kiểm tra dự
toán ngân sách, kể cả số kiểm tra dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền (nếu có) cho
các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp dưới.
1.6. Thời hạn thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách:
- Bộ Tài chính thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các Bộ, cơ
quan Trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh chậm nhất vào ngày 30 tháng 6 năm
trước.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh thông báo số kiểm tra cho các cơ quan cấp tỉnh và Uỷ ban
nhân dân các huyện chậm nhất vào ngày 15 tháng 7 năm trước.
- Uỷ ban nhân dân huyện thông báo số kiểm tra cho các cơ quan cấp huyện và Uỷ ban
nhân dân các xã chậm nhất vào ngày 30 tháng 7 năm trước.
2. Yêu cầu đối với dự toán ngân sách nhà nước năm:
2.1. Dự toán ngân sách của các đơn vị dự toán, các cấp chính quyền và các Bộ, ngành,
phải phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuNn, định mức do cơ
quan có thNm quyền ban hành, kể cả các khoản thu, chi từ nguồn viện trợ và các
khoản vay.
Đối với các đơn vị có thu được sử dụng một phần số thu để chi theo chế độ cho phép,
các đơn vị được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, cũng phải lập dự toán
đầy đủ các khoản thu, chi của đơn vị và mức đề nghị ngân sách nhà nước hỗ trợ.
2.2. Dự toán ngân sách của các đơn vị phải lập theo đúng mẫu biểu, đúng thời gian
theo quy định tại Thông tư này và phải lập chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước.
2.3. Dự toán ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phải tổng hợp theo từng
loại thu, từng lĩnh vực chi, theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển,
chi trả nợ.
Dự toán ngân sách của các Bộ, cơ quan Trung ương, các cấp chính quyền địa phương,
cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương phải tổng hợp theo ngành kinh tế, theo địa
bàn lãnh thổ.
2.4. Báo cáo d
ự toán ngân sách phải kèm theo bản thuyết minh chi tiết các cơ sở, căn
cứ tính toán.
2.5. Dự toán ngân sách các cấp phải đảm bảo cân đối theo nguyên tắc sau:
- Đối với dự toán ngân sách nhà nước: tổng số thu thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn
tổng số chi thường xuyên và các khoản chi trả nợ; bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư
phát triển; vay để cân đối ngân sách phải có nguồn chắc chắn (vay nước ngoài theo dự
án và vay bằng tiền phải căn cứ các hiệp định, các cam kết đã được ký kết được rút
vốn trong năm dự toán, vay trong nước phải tính đến khả năng thực tế và hệu quả
vay).
- Đối với dự toán ngân sách cấp tỉnh: dự toán ngân sách cấp tỉnh của các năm trong
thời kỳ ổn định phải cân bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu của ngân sách cấp tỉnh
gồm: các khoản thu ngân sách cấp tỉnh được hưởng 100%, các khoản thu phân chia
cho ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) đã được quy định và số bổ sung từ
ngân sách trung ương; số dự kiến huy động vốn trong nước để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng thuộc ngân sách cấp tỉnh đảm bảo quy định tại khoản 3
Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước và Điều 27 của Nghị định 87/CP ngày
19/12/1996 của Chính phủ.
- Đối với dự toán ngân sách cấp huyện, xã: dự toán ngân sách của các năm trong thời
kỳ ổn định phải cân bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu của ngân sách gồm: các
khoản thu ngân sách được hưởng 100%, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm
(%) đã được quy định và số bổ sung từ ngân sách cấp trên.
3. Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước năm:
3.1. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh; chỉ tiêu,
nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc
điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên của từng vùng như: dân số theo
vùng lãnh thổ, biên chế, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội do cơ quan có thNm quyền
thông báo đối với từng Bộ, ngành, địa phương và đơn vị cơ sở;
3.2. Các Luật, Pháp lệnh thuế, chế độ thu; chế độ, tiêu chuNn, định mức chi ngân sách
do cấp có thNm quyền quy định; các chế độ, chính sách hiện hành làm cơ sở lập dự
toán ngân sách nhà nước năm, trường hợp cần sửa đổi, bổ sung phải được nghiên cứu
và ban hành trước thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước.
3.3. Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp quản lý ngân
sách;
3.4. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấp
trên;
3.5. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính
về việc lập dự toán ngân sách và văn bản hướng dẫn của các Bộ;
3.6. Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thNm quyền thông báo;
3.7. Tình hình th
ực hiện dự toán ngân sách các năm trước.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn về lập dự toán ngân sách nhà nước năm:
4.1. Các doanh nghiệp căn cứ vào kế hoạch sản xuất - kinh doanh của đơn vị, các luật,
pháp lệnh về thuế và các chế độ thu ngân sách; đăng ký số thuế và các khoản phải nộp
ngân sách theo Mục lục ngân sách nhà nước gửi cơ quan thuế và cơ quan được Nhà
nước giao nhiệm vụ thu ngân sách đối với đơn vị:
- Đăng ký số thuế và các khoản phải nộp ngân sách phát sinh từ hoạt động sản xuất -
kinh doanh trong nước với cơ quan thuế và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu
đối với doanh nghiệp.
- Đăng ký số thuế xuất khNu, thuế nhập khNu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khNu và
các khoản thu khác có liên quan đến xuất, nhập khNu (các khoản phụ thu đối với đối
với hàng xuất, nhập khNu, lệ phí hải quan, ) với cơ quan hải quan nơi doanh nghiệp
sẽ nộp các khoản thu nêu trên.
Riêng các doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc đăng ký nộp thuế nêu trên còn phải:
- Lập kế hoạch thu chi tài chính, trong đó có mức đề nghị bổ sung vốn lưu động (nếu
có nhu cầu), khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) gửi cơ quan
quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá đối
với các doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân địa phương thành lập.
Thời gian báo cáo trước ngày 1 tháng 8 năm trước.
4.2. Cơ quan thuế các cấp ở địa phương lập dự toán thu ngân sách nhà nước và cơ sở
tính toán từng nguồn thu trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan thuế cấp
trên, Uỷ ban nhân dân và cơ quan tài chính cùng cấp. Chi cục Thuế thực hiện báo cáo
trước ngày 5 tháng 8 năm trước; Cục Thuế thực hiện báo cáo trước ngày 15 tháng 8
năm trước.
4.3. Tổng cục Thuế xem xét dự toán thu do cơ quan thuế trực thuộc lập, tổng hợp dự
toán thu ngân sách nhà nước và cơ sở tính toán từng nguồn thu báo cáo Bộ Tài chính.
4.4. Cục Hải quan các tỉnh lập dự toán thu thuế xuất khNu, thuế nhập khNu, thuế tiêu
thụ đặc biệt hàng nhập khNu (trong đó chi tiết thu thuế xuất khNu, thuế nhập khNu,
thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khNu qua biên giới đất liền), các khoản thu khác liên
quan đến xuất, nhập khNu thuộc phạm vi quản lý gửi Tổng cục Hải quan, Uỷ ban nhân
dân tỉnh, đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá và Cục Thuế trước ngày 15 tháng 8 năm
trước.
4.5. Tổng cục Hải quan xem xét dự toán thu do các cơ quan Hải quan trực thuộc lập,
tổng hợp dự toán thu thuế xuất khNu, thuế nhập khNu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập
khNu, trong đó chi tiết thu thuế xuất khNu, thuế nhập khNu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng
nhập khNu qua biên giới đất liền và các khoản thu được phân công quản lý báo cáo
Thủ tướng Chính phủ, gửi Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 8 năm trước.
4.6. Các đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp lập dự toán thu, chi ngân
sách thu
ộc phạm vi trực tiếp quản lý, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của
ngân sách cấp trên (nếu có), xem xét dự toán ngân sách do các đơn vị trực thuộc báo
cáo, tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách theo Mục lục Ngân sách nhà nước
thuộc phạm vi quản lý, gửi cơ quan quản lý cấp trên.
4.7. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương và địa phương lập dự toán thu, chi
ngân sách thuộc phạm vi trực tiếp quản lý, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền
của ngân sách cấp trên (nếu có), xem xét dự toán do các đơn vị trực thuộc lập; tổng
hợp và lập dự toán thu chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính
cùng cấp và đồng gửi:
- Cơ quan kế hoạch và đầu tư, cơ quan đầu tư phát triển cùng cấp (phần dự toán chi
đầu tư xây dựng cơ bản).
- Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp trên (phần dự toán chi ngân sách theo ngành,
lĩnh vực).
Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở trung ương và địa phương khi xem xét tổng hợp
dự toán của các đơn vị trực thuộc cần yêu cầu các đơn vị trực thuộc sửa đổi lại trong
trường hợp: lập dự toán không đúng định mức, chế độ, cơ sở tính toán không đúng
(biên chế, quy mô, khối lượng nhiệm vụ được giao, ), vượt quá khả năng cân đối
ngân sách, lập báo cáo dự toán ngân sách không đúng biểu mẫu, không đúng Mục lục
ngân sách nhà nước
4.8. Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp và lập dự toán thu chi ngân sách thuộc
ngành, lĩnh vực gửi cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực
cấp trên.
Đối với các đơn vị dự toán cấp I ở huyện thực hiện báo cáo trước ngày 1 tháng 8 năm
trước; đối với đơn vị dự toán cấp I ở tỉnh thực hiện báo cáo trước ngày 10 tháng 8
năm trước; đối với dự toán cấp I ở Trung ương thực hiện báo cáo trước ngày 15 tháng
8 năm trước.
Căn cứ đặc điểm của ngành và quy định về thời gian trên, cơ quan dự toán cấp I quy
định thời gian lập báo cáo của các cơ quan dự toán các cấp trực thuộc cho phù hợp.
4.9. Cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp xem xét, tổng hợp kế
hoạch thu, chi tài chính, trong đó có dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động,
các khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) của các doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn được phân công quản lý, báo cáo Tổng cục Quản lý vốn và tài
sản nhà nước tại doanh nghiệp, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh; đồng gửi Sở Tài chính
- Vật giá đối với phần dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, các khoản ngân
sách chỉ hỗ trợ theo chế độ (nếu có) của các doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân
dân lập trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
4.10. Tổng cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp xem xét kế hoạch
thu, chi tài chính, trong đó có dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, khoản
ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) của các doanh nghiệp được phân
công qu
ản lý; tổng hợp kế hoạch thu chi tài chính, trong đó có dự toán về mức đề nghị
bổ sung vốn lưu động, khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) của

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét