Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán kế toán hàng tồn kho tại Tổng Công ty rau quả nông sản với việc tăng cường quản trị nội bộ

chi phí dịch vụ có khoản doanh thu tương ứng chưa được ghi nhận ( chẳng hạn như
các công việc đang tiến hành của kiểm toán viên nhà thiết kế luật sư)
HTK phải được tính toán với mức thấp hơn giữa chi phí hoặc giá trị ròng có thể thực
hiện theo nguyên tắc thận trọng
Chi phí hàng hoá bao gồm tất cả chi phí mua (ví dụ giá mua và chi phí nhập khẩu ),
chi phí chuyển đổi (nhân công trực tiếp, chi phí sxchung, chi phí chung biến đổi, chi
phí chung cố định được phân bổ với năng suất thông thường) và các chi phí khác
(như thiết kế, đi vay.v.v) phát sinh trong quá trình chuyển HTK sang địa điểm và tình
trạng hiện tại. tại chuẩn mực này đã đề cấp tới cách thức kế toán HTK theo hệ thống
chi phí lịch sử (hisfoincalcosst).
Còn ở Việt Nam để theo dõi, quản lý và hạch toán HTK , Bộ tài chính đã ban hành
chuẩn mực kế toán số 02 (VAS02) và thông tư hướng dẫn TT89/BTC. Chuẩn mực kế
toán Việt Nam số 02(VSA 02) ban hành theo quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày
31/12/2001 trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quan điểm về HTK trong các văn bản,
tài liệu pháp lý của Việt Nam và quốc tế từ trước tới nay đã khẳng định được tổng
quan cũng như đã hướng dẫn cụ thể về phạm vi ghi nhận HTK , tính giá HTK , quản
lý HTK và phương pháp hạch toán HTK .
Theo chuẩn mực kế toán số 02(VAS02) thì
- Hàng tồn kho : Là những tài sản:
(a) Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;
(b) Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang;
(c) Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh
doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Theo khái niệm như trên thì HTK trong DN gồm:
- Hàng hoá mua để bán: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi đường, hàng gửi
bán, hàng gửi đi gia công chế biến.
- Thành phẩm: Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán.
- Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành hoặc sản phẩm hoàn thành
nhưng chưa làm thủ tục nhập kho.
5
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, đã mua đang đi trên đường hoặc
gửi đi gia công chế biến.
- Chi phi dịch vụ dở dang
Ngoài khái niệm về HTK tại VSA 02 nói trên thì theo quy định hiện hành, Quyết định
số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 thay quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày
1/11/1995 thì HTK bao gồm :
- Hàng mua đang đi đường
- Nguyên liệu, vật liệu
- Công cụ, dụng cụ
- Chi phí SX, KD dở dang
- Thành phẩm
- Hàng hóa
- Hàng gửi đi bán
- Hàng hoá kho bảo thuế
- Hàng hoá bất động sản
Theo chuẩn mực kế toán HTK Mỹ thì: HTK là toàn bộ số hàng mà DN mua về và dự
trữ để bán bao gồm cả hàng mua đang đi đường, hàng đã bán nhưng chưa giao, hàng
đang gửi, hàng hoá cũ hư hỏng có thể bán được.
Theo chuẩn mực kế toán HTK Pháp thì : HTK là một bộ phận tài sản lưu động dự trữ
cho sản xuất và dự trữ cho lưu thong, hoặc đang trong quá trình chế tạo sản phẩm ở
DN bao gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dịch vụ dở dang, thành
phẩm, hàng hoá.
Theo quan điểm của Anh: HTK là một tài sản hữu hình của DN với đặc tính:
dùng để bán ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN . HTK được xếp
vào khoản mục Tài sản lưu động trong Bảng cân đối kế toán do nó có khả năng
được chuyển thành tiền mặt trong vòng 1 năm.
I.1.1.2 Đặc điểm
6
Với những nội dung như trên có thể nhận xét rằng HTK là loại tài sản lưu động khá
phức tạp và quan trọng trong doanh nghiệp gồm nhiều loại, đa dạng với vai trò và
công dụng khác nhau tuy vậy có thể khái quát những đặc điểm chính sau:
+ HTK thường chiếm 1 tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động.
+ HTK thường được bảo quản và cất trữ ở nhiều nơi khác nhau, có điều kiện cất
trữ khác nhau, lại do nhiều đối tượng quản lý với trình độ khác nhau nên dễ xảy ra
mất mát, công việc kiểm soát vật chất , kiểm kê, quản lý và sử dụng nó gặp nhiều khó
khăn, mất thời gian chi phí, đôi khi có sự nhầm lẫn sai sót và dễ bị gian lận.
+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh HTK thường biến động tăng giảm liên tục
với các nghiệp vụ nhập xuất thường xuyên đòi hỏi các đơn vị phải phân loại HTK
khoa học theo từng loại, từng nhóm, từng danh mục, thống nhất về tên gọi, ký mã
hiệu, quy cách đơn vị tính thì mới tổ chức tốt việc quản lý.
+ Trong kế toán có nhiều phương pháp định giá HTK và đối với mỗi loại HTK DN
có thể lựa chọn các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên các đơn vị phải đảm bảo tính
thống nhất trong việc tính giá HTK giữa các kỳ.
+ HTK thường khá đa dạng và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi hao mòn hữu hình và
hao mòn vô hình như bị hư hỏng trong thời gian nhất định, bị lỗi thời, lỗi mốt do đó
cần phải có sự hiểu biết về đặc điểm từng loại, xu hướng biến động của nó trên bình
diện ngành để có thể xác định được chính xác hao mòn nhằm hạn chế rủi ro thiệt hại,
thất thoát tài sản quan trọng này.
+ Việc xác định tính giá HTK có ảnh hưởng đến giá vôn từ đó ảnh hưởng tới lãi
chưa phân phối của DN .
+ Việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị HTK luôn là công việc khó khăn
phức tạp hơn hầu hết các tài sản khác. Có rất nhiều khoản mục HTK rất khó phân loại
và định giá.
I.1.1.3 Phân loại HTK
Tồn kho có thể phân chia thành nhiều loại:
+ Cách thứ nhất là chia tồn kho theo hình thức vật lý của nó, gắn liền với các
giai đoạn của quá trình sản xuất, đó là HTK ở khâu dự trữ (nguyên vật liệu, hàng đi
7
đường, công cụ dụng cụ ); HTK ở khâu sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang) và HTK
ở khâu lưu thông (thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi bán).
+ Cách thứ hai là chia tồn kho theo giá trị đầu tư vốn vào chúng. Đây là hình
thức phân loại tồn kho theo giá trị từng loại. Trong cách phân loại này ta chia tồn kho
thành nhóm A, B và C. Về mặt số lượng, nhóm A chiếm X%, nhóm B chiếm Y% và
nhóm C chiếm Z% (X+Y+Z=100%, X<Y<Z) nhưng về mặt giá trị nhóm A chiếm
đến M%, trong khi nhóm B và nhóm C lần lượt chỉ chiếm có N% và P%
(M+N+P=100%, M>N>P). Điều này cho thấy nhóm A chiếm tỷ trọng cao nhất về
mặt giá trị hay nói khác đi nhóm A là nhóm tồn kho đắt tiền hơn nên cần kiểm tra
thường xuyên hơn. Cách kiểm soát tồn kho kiểu này gọi là phương pháp kiểm soát
tồn kho ABC.
+ Ngoài ra còn có thể phân loại theo nguồn hình thanh (mua ngoài, tự sản
xuất, thuê gia công, nhận góp vốn, nhập khẩu…), theo quyến sở hữu(HTK tự có từ
sản xuất, HTK do nhận gia công chế biến, HTK giữ hộ …)
Một tiêu thức phân loại thông dụng là phân loại theo công dụng của HTK. Đó
là:
+ Theo kế toán Mỹ: HTK được chia thành 3 nhóm chính là:
- HTK thương mại: là những hàng mua vào để bán ra.
- HTK sản xuất: bao gồm: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, giá trị sản phẩm
dở dang, thành phẩm, vật dụng khác.
- HTK là các vật phẩm khác: các thứ HTK này không trọng yếu nên thường
được ghi nhận thẳng vào chi phí khi chúng được mua về để sử dụng.
+ Theo kế toán Pháp: HTK được phân chia theo công dụng bao gồm:
nguyên vật liệu, tài sản dự trữ sản xuất khác, giá trị sản phẩm dở dang, dịch
vụ dở dang, tồn kho sản phẩm, tồn kho hàng hoá.[9]
+ Theo kế toán Việt Nam: HTK bao gồm: nguyên vật liệu, hàng mua đi
đường, công cụ dụng cụ, giá trị sản phẩm dở dang, hàng gửi bán, thành phẩm,
hàng hoá.
8
Như vậy, chúng ta thấy rằng việc phân loại HTK ở các quốc gia về cơ bản là
tương đối thống nhất với nhau.
Trong tất cả các cách phân loại nói trên cách thứ nhất là có ý nghĩa nhất vì nó gắn quá
trình quản lý với từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Cách này giúp cho
nhà quản trị thấy rõ vai trò và tác dụng của từng loại HTK trong quá trình sản xuất
kinh doanh qua đó đưa ra quyết định về quản lý và hạch toán từng loại nhằm nâng
cao hiệu quả huy động và sử dụng HTK.
Việc xác định những gì thuộc về HTK cũng nảy sinh vấn đề sở hữu HTK trong một
số trường hợp. Theo nguyên tắc kế toán nói chung thì thuộc về HTK chỉ là những thứ
mà do DN sở hữu. Tuy nhiên, một điểm quan trọng là quyền kiểm soát gắn bó với tài
sản đó. Trong thực tế, việc ghi nhận là HTK khi nhận được hàng vì người mua khó
xác định chính xác thời điểm pháp lý chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm cho mỗi
lần mua, đồng thời không có những sai sót trọng yếu nào khi ghi nhận theo cách này.
Như vậy, việc phân loại và xác định những hàng nào thuộc HTK của DN ảnh hưởng
tới việc tính chính xác của HTK phản ánh trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng tới
các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Vì vậy việc phân loại HTK là cần thiết
trong mỗi DN .
I.1.2 Quản lý HTK trong các DN [14]
HTK hình thành mối liên hệ giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Một DN có thể phải
duy trì HTK dưới những hình thức như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành
phẩm. Tác động tích cực của việc duy trì HTK là giúp cho DN chủ động hơn trong
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+Tồn kho nguyên liệu giúp công ty chủ động trong sản xuất và năng động trong việc
mua nguyên liệu dự trữ.
+Tồn kho sản phẩm dở dang giúp cho quá trình sản xuất của công ty được linh hoạt
và liên tục, giai đoạn sản xuất sau không phải chờ đợi giai đoạn sản xuất trước.
+Tồn kho thành phẩm giúp chủ động trong việc hoạch định sản xuất, tiếp thị và tiêu
thụ sản phẩm nhằm khai thác và thoả mãn tối đa nhu cầu thị trường.
9
Tuy nhiên, duy trì tồn kho cũng có mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên quan
đến tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản và cả chi phí cơi hội do vốn kẹt đầu
tư vào tồn kho. Vì thế yêu cầu đặt ra đối với DN là phải có công tác quản lý như thế
nào để thu mua, xuất bán hàng hoá vật tư kịp thời, chính xác, sử dụng hiệu quả tiết
kiệm, công tác bảo quản tốt, dự trữ hợp lý. Trong thực tế xuất phát từ những đặc
điểm của HTK mà tuỳ theo điều kiện quản lý ở mỗi DN mà có những yêu cầu khác
nhau song việc quản lý HTK trong các DN phải bao quát cả trên 3 phương diện:
Quản lý hiện vật của HTK , quản lý kế toán và quản trị kinh tế của HTK . Quản lý
tồn kho cần lưu ý xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì HTK .
I.1.2.1 Quản lý hiện vật của HTK
Quản lý hiện vật của HTK dựa vào việc tối ưu hóa sự lưu kho của sản phẩm: diện
tích và số lượng cần thiết của kho là bao nhiêu ? Kho tàng có những phương tiện nào,
trong số đó có những phương tiện vận chuyển, sắp xếp nào ?, cần phải mua chúng
như thế nào ?. Đáp án cho câu trả lời này cho phép thấy khả năng sinh lợi của các
khoản đầu tư đã chấp nhận.
- Quản lý tốt về mặt vật chất của HTK bảo đảm cho khách hàng của DN một
"mức độ dịch vụ tốt" và có thể tạo ra một lợi thế so với các đối thủ. Muốn vậy yêu
cầu phải nắm được những nguyên tắc cơ bản của kho hàng đó là:
Trong các DN công nghiệp, người ta chia thành kho thành phẩm, kho nguyên vật
liệu, kho các bộ phận linh kiện, kho dụng cụ đồ nghề.v.v.
Trong các DN thương nghiệp bán buôn hoặc bán lẻ, hàng hóa được dự trữ ở các kho
tạm giữ hoặc là các kho dự trữ, nhưng cũng cả ở diện tích bán. Những kho này là cần
thiết, bởi vì các dự trữ phải được bảo vệ chống ăn trộm, chống thời tiết xấu, chống
nóng, ẩm và chống những biến dạng v.v Những cơ sở dự trữ cần phải kín và phù
hợp với từng loại sản phẩm, hàng hóa, vật tư cần được bảo vệ. Địa điểm kho dự trữ
cần phải được bố trí sao cho việc vận chuyển tối thiểu và dễ dàng cho việc nhập, xuất
các hàng hóa.
- Mã hóa và phương pháp xếp đặt các sản phẩm tồn kho.
10
Để thuận lợi cho công tác dự trữ và tăng tốc độ giải phóng kho, cần thiết phải nhận
dạng sản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tên gọi
của chúng, nhưng cách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt khi chúng gồm
những chỉ dẫn kỹ thuật hoặc kích cỡ, do đó DN thường sử dụng một bộ mã số (chẳng
hạn như: 1234) hoặc cả chữ cái và số cho mỗi mặt HTK .
- Những phương pháp xếp đặt các mặt hàng tồn kho.
Có nhiều phương pháp để sắp xếp hàng tồn kho, chúng có thể được kết hợp với nhau.
+ Phương pháp: "Mỗi chỗ một vật, mỗi vật ở chỗ của mình" là dành cho mỗi một loại
hàng một chỗ quy định.
+ Ưu điểm là dễ dàng định vị sản phẩm, vật tư trong kho; xác định lượng dự trữ
thừa hay thiếu một cách nhanh chóng. Nhưng mắc nhược điểm là không tận dụng
được diện tích kho tàng.
+ Phương pháp phổ quát vị trí: "bất kỳ vật gì, bất kỳ chỗ nào" là sử dụng vị trí
nào còn trống lúc đưa hàng vào kho, một loại hàng có nhiều điạ chỉ. Ưu điểm của nó
là tận dụng được diện tích kho tàng, nhưng khó về mặt thông tin để định vị được chỗ
trống khi nhập kho và tìm địa chỉ sản phẩm khi xuất kho.
+ Phương pháp tần suất quay vòng: Loại hàng nào ra vào nhiều nhất được xếp ở
chỗ thuận tiện nhất.
+ Phương pháp hai kho: Kho được chia làm hai bộ phận: Kho dự trữ được cung
ứng do nhập kho và cung cấp số lượng nhỏ cho kho phân phối từ đó xác lập các đơn
đặt hàng.
+ Phương pháp vào trước ra trước (first in, first out FI FO)
I.1.2.2 Quản trị kế toán HTK .
Nắm số lượng dự trữ:
- DN sử dụng các phiếu kho để ghi chép sự vận động của hàng hóa (nhập và
xuất) và tính toán số lượng tồn kho (dự trữ cuối cùng = dự trữ ban đầu + nhập - xuất).
- Kiểm kê: Phiếu kho cho phép nắm được hàng tồn trong kho về mặt giấy tờ,
nhưng nó không thể tính được những mất mát hoặc hư hỏng ở tất cả các dạng. Để
11
khắc phục điều này, quy định các DN thực hiện kiểm kê một cách thường xuyên (kế
toán), hoặc gián đoạn (ngoài kế toán).
Việc kiểm kê này là cơ sở để đánh giá dự trữ được biểu thị ở bảng cân đối, cho phép
nhà quản trị biết được bất cứ lúc nào về tình hình dự trữ của họ. Việc kế toán này của
dự trữ là khá dễ dàng về số lượng hiện vật, nhưng có nhiều khó khăn về giá trị.
Nắm giá trị HTK :
Việc nắm các HTK về mặt giá trị là khó khăn, vì thông thường các mặt hàng nhập
vào có những giá mua khác nhau. Vấn đề cần phải định giá cho chúng khi xuất kho
theo giá nào? Về phương pháp có thể sử dụng
- Phương pháp giá đích danh
- Phương pháp giá bình quân gia quyền
- Phương pháp FIFO
- Phương pháp LIFO
Cả bốn phương pháp trên đều là phương pháp kế toán được thừa nhận. Tuy nhiên,
lựa chọn phương pháp để áp dụng cần chú trọng tới ảnh hưởng của từng phương
pháp đối với bảng tổng kết tài sản và bảng kê lãi lỗ của DN .
I.1.2.3 Quản trị kinh tế của HTK .
Việc duy trì HTK để thực hiện hai mục tiêu có vẻ trái ngược nhau:
- Mục tiêu an toàn: có HTK để tránh mọi gián đoạn.
- Mục tiêu tài chính: giảm đến mức thấp nhất có thể được về mức hàng tồn
trong kho để giảm những chi phí kho tàng.
Để giải quyết điều đó, quản trị HTK cần trả lời hai câu hỏi:
- Đặt hàng khi nào?
- Số lượng mỗi lần đặt hàng là bao nhiêu?
Dự trữ trung bình là dự trữ đã được lưu lại bình quân trong DN trong thời gian nhất
định, dự trữ trung bình giảm khi số tái dự trữ tăng lên.
Dự trữ gắn với thời hạn cung ứng: dự trữ tối thiểu.
Nếu như DN chờ lượng dự trữ xuống bằng 0 mới đưa đơn hàng cho nhà cung ứng, nó
sẽ rới vào tình trạng gián đoạn dự trữ trong quãng thời gian được gọi là thời gian tái
12
dự trữ. Do vậy, vào lúc thực hiện việc đặt hàng cần phải có dự trữ một khối lượng
hàng đủ để đáp ứng nhu cầu trong thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận hàng. Dự
trữ tối thiểu đáp ứng nhu cầu này.
Dự trữ an toàn hoặc dự trữ bảo hiểm
Những chi phí liên quan đến dự trữ:
Khi thực hiện dự trữ, DN cần phải tính toán ba loại chi phí:
Chi phí tồn trữ: là những chi phí có liên quan đến hoạt động thực hiện tồn kho, bao
gồm:
Chi phí kho: Chi phí này nhằm bảo đảm hàng hóa tồn kho, chi phí cho kho tàng (thuê
hoặc khấu hao hàng năm nhà kho), chi phí khai thác kho (tiền lương và bảo hiểm xã
hội cho nhân viên kho, tiền thuê hoặc khấu hao hàng năm máy móc thiết bị, ánh
sáng ), chi phí bảo dưỡng thiết bị, chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý
Chi phí sụt giá hàng trong quá trình dự trữ trong kho: phải phân biệt hai nguyên nhân
sụt giá:
- Sụt giá do lỗi thời liên quan đến những mặt hàng theo mốt hoặc công nghệ
tiến triển nhanh
- Sụt giá do hư hỏng, chẳng hạn do những tai nạn khi chuyên chở, bay hơi, trộm
cắp, hoặc bị phá bởi những loại gặm nhấm
Chí phí đặt hàng: Đó là những chi phí cho mỗi lần DN bắt đầu quá trình mua để tái
dự trữ. Loại chi phí này bao gồm những chi phí có liên quan đến đơn hàng như: chi
phí các mẫu đơn sử dụng và chi phí xử lý các đơn đặt hàng, thư tín, điện thoại, đi lại,
tiền lương và bảo hiểm xã hội của nhân viên mua (tìm người cung ứng, thương
lượng, thảo đơn đặt hàng, thúc dục, nhắc nhở ), của nhân viên kế toán (ghi chép,
thanh toán hóa đơn v.v), chi phí bố trí thiết bị, chi phí cho công tác kiểm tra về số và
chất lượng hàng hóa.
Khi chúng ta sản xuất một lô hàng sẽ phát sinh một chi phí cho việc chuyển đổi qui
trình do sự thay đổi sản phẩm từ giai đoạn trước sang giai đoạn tiếp theo. Kích thước
lô hàng càng lớn thì tồn kho vật tư càng lớn, nhưng chúng ta đặt hàng ít lần trong
năm thì chi phí đặt hàng hàng năm thấp hơn.
13
Chi phí mua hàng: Loại chi phí này phụ thuộc vào nhu cầu hàng năm của DN
và giá mua. Khi mua nguyên vật liệu với kích thước lô hàng lớn sẽ làm tăng chi
phí tồn trữ nhưng chi phí mua hàng thấp hơn do chiết khấu theo số lượng và
cước phí vận chuyển cũng giảm.
I.1.2.4 Quản lý HTK tại các khâu trong quá trình sxkd
Xuất phát từ vai trò , đặc điểm của HTK trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi
phải quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ khâu thu mua , bảo quản ,sử dụng và dự trữ HTK
là tài sản dự trữ sản xuất, thường xuyên biến động, các DN thường xuyên phải tiến
hành mua vật liệu, công cụ dụng cụ để đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất, chế
tạo sản phẩm và các nhu cầu khác trong DN .
- Ở khâu thu mua: Đòi hỏi phải quản lý về khối lượng, chất lượng, quy cách
chủng loại, giá mua và chi phí mua cũng như kế hoạch mua theo đúng tiến độ thời
gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN
- Ở khâu bảo quản: Việc tổ chức tốt kho tàng, bến bãi trang bị đầy đủ các
phương tiện cân đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại HTK tránh hư
hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn.
- Ở khâu sử dụng: Đòi hỏi phải thực hiện việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm. trên cơ
sở các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu trong giá thành
sản phẩm, tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho DN , do vậy trong khâu này cần tổ chức
tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng HTK trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Ở khâu dự trữ: DN phải xác định được định mức dự trữ tối đa, tối thiếu cho
cho từng loại HTK để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường,
không bị ngừng trệ, gián đoạn do việc cung ứng, mua, bán không kịp thời hoặc gây ứ
đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
Tóm lại, quản lý chặt chẽ HTK từ khâu mua đến khâu bảo quản, sử dụng và dự trữ là
một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý tài sản ở DN
I.2. Nội dung tổ chức thu thập thông tin kế toán HTK tại các DN
I.2.1. Vai trò của thông tin kế toán quản trị HTK trong các DN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét