hoạt động đầu t trong nớc. Tuy nhiên, do vấn đề rộng và khá phức tạp, tôi chỉ
nghiên cứu việc thực hiện Luật khuyến khích đầu t trong nớc từ năm 1995 trở
lại đây.
Khoá luận sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chủ yếu nh: duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê kinh tế, phân tích hoạt động kinh tế v.v.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng I: Một số vấn đề lY luận về đầu t trong nớc và
khuyến khích đầu t trong nớc.
Chơng II: thực trạng khuyến khích đầu t trong nớc.
Chơng III: một số khuyến nghị về giải pháp khuyến
khích đầu t trong nớc.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo THS. Nguyễn Thu Hà và bác
Nguyễn Thị Thanh Chung và các cô, chú ở Vụ Doanh nghiệp Bộ Kế
Hoạch và đầu t đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
`
5
CHƯƠNG 1: Một Số Vấn Đề Ly Luận Về Đầu TƯ Và
Khuyến Khích Đầu TƯ TRONG Nớc.
1.1. Những khái niệm cơ bản về đầu t:
1.1.1 Khái niệm và vai trò của đầu t , vốn đầu t :
Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, để tiến hành mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh thì điều kiện không thể thiếu là phải có tiền.
Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tiền này đ-
ợc dùng để xây dựng nhà xởng, mua sắm trang thiết bị v.v. (tạo ra các cơ sở vật
chất kỹ thuật); mua sắm nguyên vật liệu, trả lơng cho ngời lao động trong chu kỳ
sản xuất kinh doanh dịch vụ đầu tiên (tạo vốn lu động gắn liền với sự hoạt động
của các TSCĐ vừa tạo ra).
Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ đang hoạt động, tiền này
dùng để mua sắm thêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xởng, tăng vốn
lu động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa hoặc mua sắm các
TSCĐ mới thay thế các TSCĐ đã bị h hỏng, hao mòn hữu hình (là các hao mòn
do quá trình sử dụng và do tác động của khí hậu, thời tiết) và vô hình (khoa học
kỹ thuật phát triển nhanh chóng làm cho nhiều TSCĐ trở nên lạc hậu không còn
thích hợp với điều kiện mới, nếu tiếp tục sử dụng sẽ không có hiệu quả).
Vì số tiền cần thiết cho hoạt động đầu t là rất lớn nên không phải cơ sở
sản xuất kinh doanh nào cũng có đủ tiền để tiến hành hoạt động đầu t. Tuy
nhiên, họ có thể huy động từ nhiều nguồn khác nh: vay ngân hàng; vay bạn bè,
ngời thân; mời cơ sở khác hợp tác đầu t, vay từ bạn hàng v.v.
Từ đây, ta có thể rút ra định nghĩa về vốn đầu t và nguồn gốc của vốn đầu
t nh sau:
`
6
Vốn đầu t là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác đợc đa
vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và
tạo ra tiềm lực lớn hơn cho nền sản xuất xã hội.
Quá trình sử dụng vốn đầu t xét về mặt bản chất chính là quá trình thực
hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu t) thành vốn hiện vật để tạo nên
những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt. Quá trình này
đợc gọi là hoạt động đầu t hay đầu t vốn. Do đó, ta có khái niệm về đầu t nh sau:
Đầu t đợc hiểu là sự hi sinh hay chi dùng các nguồn lực (về tài chính,
lao động, vật chất, tài nguyên thiên nhiên v.v.) trong hiện tại để tiến hành một
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tơng lai.
Hoạt động đầu t rất phong phú và đa dạng nhng xét về bản chất và phạm
vi lợi ích mà chúng đem lại, hoạt động đầu t bao gồm 3 bộ phận: đầu t tài chính,
đầu t thơng mại và đầu t phát triển.
Đầu t tài chính là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra để cho vay
hoặc mua các chứng chỉ có giá để hởng lãi suất định trớc (gửi tiết kiệm, mua trái
phiếu) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty phát hành. Hình thức đầu t này không tạo tài sản mới cho nền kinh tế mà
chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu t.
Đầu t thơng mại là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra để mua hàng
hoá, sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm mục đích thu lợi nhuận do chênh lệch
giá khi mua và khi bán. Cũng nh đầu t tài chính, đầu t thơng mại không tạo ra tài
sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của ngời đầu t,
nhng nó lại có tác dụng thúc đẩy quá trình lu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn.
`
7
Đầu t phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu t, là quá trình chuyển hoá
vốn bằng tiền thành vốn hiện vật; là quá trình chi dùng vốn nhằm tạo ra những
yếu tố cơ bản của sản xuất, kinh doanh dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản
mới, năng lực sản xuất mới và duy trì tiềm lực sẵn có của nền kinh tế. Nh vậy chỉ
có đầu t phát triển mới tạo ra tài sản và của cải vật chất cho nền kinh tế.
Ta thấy rằng: không có một cơ sở sản xuất kinh doanh nào có thể tồn tại
và phát triển nếu không có hoạt động đầu t. Còn đối với toàn bộ nền kinh tế,
hoạt động đầu t cũng đóng một vai trò quan trọng, là một nhân tố then chốt thúc
đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Bởi vì hoạt động đầu t tác động đến cả tổng
cung tổng cầu; đến tốc độ tăng trởng và phát triển của nền kinh tế; góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo điều kiện tăng cờng khả năng khoa học và công
nghệ của đất nớc v.v. Có thể nói, đầu t là động lực cho sự phát triển của mỗi
doanh nghiệp cũng nh mỗi quốc gia.
1.1.2. Phân loại đầu t , vốn đầu t :
Để tiện cho việc theo dõi, quản lý, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu t,
ngời ta thờng phân loại hoạt động đầu t theo các tiêu chí nh:
- Theo tính chất của các đối tợng đầu t hoạt động đầu t gồm : đầu t cho
đối tợng vật chất, tài chính, đối tợng phi vật chất.
- Theo cơ cấu tái sản xuất hoạt động đầu t gồm: đầu t theo chiều rộng,
đầu t theo chiều sâu.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu t, hoạt động đầu t có thể chia thành:
đầu t gián tiếp, đầu t trực tiếp.
- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu t trong quá trình tái sản
xuất xã hội, hoạt động đầu t có thể chia thành: đầu t thơng mại và đầu t sản xuất.
`
8
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu t, hoạt động đầu t đợc
phân chia thành: đầu t cơ bản nhằm tái sản xuất các TSCĐ, đầu t vận hành nhằm
tạo ra các tài sản lu động.
Nhng nếu xét trên bình diện quốc gia ngời ta thờng phân chia hoạt động
đầu t thành đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài.
Đầu t trong nớc, theo Điều 2 Luật KKĐTTN, là việc bỏ vốn vào sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam , ngời Việt
Nam định c ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài c trú lâu dài ở Việt Nam. Còn đầu t n-
ớc ngoài là việc nhà đầu t nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ
tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu t. Đầu t nớc ngoài thờng đợc chia thành
đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp.
Cũng theo Luật KKĐTTN, khuyến khích đầu t trong nớc đợc hiểu là
việc sử dụng các cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm kích thích quá trình bỏ
vốn vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn trên cơ sở chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ của đất nớc.
Các nguồn lực cho hoạt động đầu t bao gồm: nguồn lực về tài chính (vốn
tiền tệ), nguồn lực về con ngời (nhân lực), nguồn lực về máy móc thiết bị (vật
lực), nguồn tài nguyên thiên nhiên v.v. Các nguồn lực này có mối quan hệ chặt
chẽ và trong một điều kiện nhất định có thể chuyển hoá, thay thế lẫn nhau. Trong
đó thì nguồn vốn tiền tệ là quan trọng nhất, vì nó có thể dùng để lợng hoá cho
các nguồn lực còn lại. Ngày nay, một diện tích đất đai có vị thế quan trọng,
những phát minh sáng chế hay hàng triệu tấn dầu thô vừa đợc khai thác đều có
thể tơng đơng với một lợng tiền tệ nhất định.
Cũng nh hoạt động đầu t, ngời ta thờng phân chia nguồn vốn cho đầu t
thành 2 nguồn chính là:
+ Nguồn vốn trong nớc, đợc huy động từ các nguồn:
`
9
- Tiết kiệm của chính phủ (tạo vốn qua Ngân sách): đây là nguồn có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu t trong nớc. Nguồn này chủ yếu
đợc tập trung cho đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu t phát triển
một số công trình công nghiệp then chốt, các công trình công cộng hay các công
trình liên quan đến an ninh quốc gia v.v.
- Tiết kiệm của doanh nghiệp và tổ chức: nguồn này đợc lấy chủ yếu từ
quỹ khấu hao của các doanh nghiệp. Nó thờng đợc đầu t vào những lĩnh vực
mang lại lợi nhuận cao, thâm nhập thị trờng quốc tế hay nâng cao khả năng cạnh
tranh của cơ sở v.v.
- Tiết kiệm của khu vực dân doanh: đây là nguồn vốn khá lớn có khả năng
đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu t trong tơng lai nhng cha đợc huy động hiệu
quả. ở nớc ta, nguồn vốn của khu vực này mới chỉ chú trọng vào thu hút tiền gửi
tiết kiệm mà cha chú trọng vào khuyến khích ngời dân bỏ tiền ra đầu t.
+ Nguồn vốn nớc ngoài:
- Vốn đầu t gián tiếp nớc ngoài: là nguồn vốn của chính phủ, các tổ chức
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài v.v. đợc
thực hiện dới các hình thức khác nhau nh: viện trợ hoàn lại, viện trợ không hoàn
lại hoặc cho vay với lãi suất u đãi, mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty của
Việt Nam. Một hình thức phổ biến của đầu t gián tiếp là viện trợ phát triển chính
thức của các nớc công nghiệp phát triển ODA. Vốn đầu t gián tiếp thờng lớn,
cho nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội của nớc nhận đầu t. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu t gián
tiếp thờng gắn với những điều kiện về chính trị do đó dễ bị lệ thuộc vào nớc
ngoài.
- Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI): là nguồn vốn do các nhà đầu t cá
nhân và tổ chức của nớc ngoài đầu t vào Việt Nam. Vốn này thờng không đủ lớn
để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nớc chủ nhà. Tuy nhiên,
`
10
nó lại tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ, giải quyết
công ăn việc làm, thâm nhập thị trờng quốc tế, học hỏi kinh nghiệm quản lý v.v.
của nớc chủ nhà.
Việt Nam là một trong những nớc nghèo trên thế giới, còn thiếu thốn về
mọi mặt, từ vốn tiền tệ, máy móc thiết bị v.v. đến đội ngũ nhân lực có trình độ
cao. Tuy nhiên, dân tộc ta là một dân tộc hiếu học, có tinh thần yêu nớc mạnh
mẽ, không chịu khuất phục trớc bất kỳ khó khăn nào. Nhận thức đợc vị thế cũng
nh những khó khăn của đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã có những chính sách và
biện pháp cụ thể để huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nớc, để đến năm
2020, cơ bản trở thành một nớc công nghiệp hoá - theo văn kiện Đại hội Đảng
IX. Muốn đạt đợc điều đó, cũng theo văn kiện Đại hội Đảng IX, thì chúng ta
phải cần khoảng 830 - 850 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2000) tơng đơng 59-61
tỷ USD trong thời gian 5 năm 2001-2005, trong đó nguồn vốn trong nớc chiếm
2/3, mỗi năm phải tăng từ 11-12%. Do đó, vai trò của đầu t trong nớc và chính
sách KKĐTTN càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này.
1.2. Vai trò của đầu t trong nớc và khuyến khích đầu t trong nớc:
1.2.1. Vai trò của đầu t trong n ớc:
Nh đã trình bày ở phần trên, hoạt động đầu t có một vai trò hết sức quan
trọng. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển đối với từng cơ sở sản xuất kinh
doanh cũng nh đối với toàn bộ nền kinh tế. Trên bình diện quốc gia, hoạt động
đầu t có thể chia thành 2 hoạt động chính là: đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài.
Là một nớc đang phát triển, có nhu cầu đầu t rất lớn, Nhà Nớc ta đã có chủ trơng
tận dụng tối đa nguồn vốn đầu t nớc ngoài đồng thời tăng cờng phát huy nội lực,
dựa vào nguồn vốn đầu t trong nớc là chính. Bởi vì, đầu t trong nớc đóng vai trò
quyết định cho công cuộc phát triển đất nớc. Điều này đã đợc cả lý luận và thực
tế chứng minh.
`
11
Thứ nhất, xét về mối quan hệ biện chứng giữa đầu t trong nớc và đầu t n-
ớc ngoài. Kinh nghiệm trong nớc và quốc tế đã chỉ ra rằng: vốn đầu t nớc ngoài
có vai trò rất quan trọng nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trởng,
đặc biệt là đối với các nớc chậm phát triển, với các nguồn vốn tích luỹ trong nớc
còn thấp, bắt buộc phải tranh thủ nguồn vốn bên ngoài. Nó đợc ví nh cú hích
đột phá vào cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất
cánh.
Mặc dù nguồn vốn nớc ngoài là rất quan trọng song nguồn vốn đầu t trong
nớc vẫn đóng vai trò quyết định. Bởi lẽ, nguồn vốn đầu t nớc ngoài dù có lớn đến
đâu nữa nếu không có các nguồn vốn đầu t do sự tích luỹ từ nội tại nền kinh tế
thì nguồn vốn từ nớc ngoài cũng không thể sử dụng có hiệu quả. Mặt khác, đầu
t trong nớc vừa đảm bảo tăng trởng ổn định, lại vừa tránh đợc sự phụ thuộc vào
nớc ngoài.
Tuy đầu t nớc ngoài là vô cùng quan trọng, nhng không thể thực hiện tốt
mục tiêu CNH, HĐH đất nớc nếu chỉ trông chờ vào đầu t nớc ngoài. Vì họ chỉ
đầu t vào các ngành, khu vực có nhiều thuận lợi để khai thác các lợi thế của Việt
Nam. Khi không còn kiếm đợc lợi nhuận họ sẽ ngay lập tức rút khỏi nớc ta. Đầu
t trong nớc có một tiềm năng to lớn và ít biến động hơn dới ảnh hởng của các yếu
tố bên ngoài, cần và có thể đóng vai trò chủ đạo, nhất là trong điều kiện đầu t n-
ớc ngoài đang giảm sút nghiêm trọng nh hiện nay.
Còn nếu xét trên tầm vi mô, cùng với vốn bên ngoài, nhất thiết phải có vốn
đối ứng bên trong mới có thể triển khai công trình thuận lợi. Thêm vào đó, cần
có cả vốn cho các công trình ngoài hàng rào nh đầu t vào cơ sở hạ tầng: điện,
cấp thoát nớc, thông tin liên lạc và hạ tầng xã hội khác. Theo nh kinh nghiệm các
nớc, nếu vốn đầu t cho nhà máy là 1 thì vốn đầu t ngoài hàng rào cho các công
trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội cũng phải nhiều hơn, có khi 2 3 lần. Do đó, dù
là công trình vay vốn nớc ngoài thì vốn trong nớc cũng rất quan trọng.
`
12
Thứ hai, trong lịch sử phát triển các nớc và trên phơng diện lý luận
chung, bất cứ nớc nào cũng phải sử dụng lực lợng nội bộ là chính. Sự chi viện,
bổ sung từ nớc ngoài, dù là viện trợ, cho vay hay đầu t của nớc ngoài cũng chỉ là
tạm thời. Nếu bản thân nền kinh tế không có tiết kiệm nội bộ, thì đó là nền kinh
tế tiêu hao, ăn dần mòn vào của cải, kết cục sẽ đi vào con đờng bế tắc cho sự
phát triển. Vốn ODA là vốn vay thì cuối cùng cũng phải dùng vốn trong nớc để
thanh toán nợ gốc và trả lãi. Việc dùng vốn FDI cũng chỉ là phần bổ sung, không
thể thay thế cho đầu t và sản xuất trong nớc. Hơn nữa, trong thời kỳ dài hạn,
nguồn của cải làm ra phải dành một phần cho chuyển lãi và vốn gốc ra nớc
ngoài, nên việc thiếu vốn vẫn căng thẳng.
ở Việt Nam những năm (1966-1990), khi tích luỹ nội bộ nền kinh tế là
con số âm thì cũng đồng thời là thời kỳ phát triển kinh tế bấp bênh, mất cân đối
nghiêm trọng. Khi nền kinh tế có mức tích luỹ nội bộ ngày càng cao (từ 1991
đến nay) thì đồng thời nhịp độ tăng trởng kinh tế cũng tăng lên và tạo điều kiện
cho phát triển dài hạn.
Thứ ba, nếu xét về mặt lợi ích dân tộc, nếu không có vốn trong nớc đủ
mức, xét về lâu dài khối lợng của cải làm ra (thông qua chỉ tiêu GDP) có thể lớn,
nhng của cải thực sự mà nhân dân ta đợc hởng thụ lại rất ít. Thành ra, nền kinh tế
có vẻ phồn vinh , sản phẩm có vẻ dồi dào, nhng là phồn vinh giả do của cải
không vào tay nhân dân trong nớc.
Hiện nay, tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam vào các liên doanh chỉ giậm
chân ở mức 30% nh hiện nay cũng do tình trạng thiếu vốn đối ứng trong nớc.
Không ít xí nghiệp phải dùng quỹ đất đa vào góp vốn, phần thiếu lại đi vay nợ n-
ớc ngoài để đóng góp vốn cho các liên doanh.
1.2.2 Vai trò của khuyến khích đầu t trong n ớc:
Tuy nhiên, để đầu t trong nớc thể hiện đợc vai trò của mình, thì điều kiện
không thể thiếu đợc là phải có một cơ chế, chính sách phù hợp tạo động lực
`
13
khuyến khích đầu t trong nớc. Cơ chế chính sách khuyến khích đầu t này cũng
có vai trò không kém phần quan trọng.
Thứ nhất, nó tạo điều kiện huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn
vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nớc nhằm góp phần phát
triển kinh tế xã hội.
Thứ hai, nó góp phần phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các
vùng, địa phơng trong cả nớc.
Thứ ba, nó thể hiện vai trò quản lý Nhà Nớc về kinh tế đối với hoạt động
đầu t. Bằng các qui định về luật pháp, các đòn bẩy kinh tế, Nhà Nớc quản lý các
hoạt động đầu t trong nớc theo hớng có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế, đảm
bảo công bằng xã hội.
Từ những lý do trên, rõ ràng là đầu t trong nớc và khuyến khích đầu t
trong nớc có một ý nghĩa quyết định trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội
của mỗi quốc gia.
1.3. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới về khuyến khích đầu t
trong nớc:
Kinh nghiệm thành công của nhiều nớc trên thế giới cho thấy rằng không
một nớc nào có thể phát triển kinh tế thành công nếu chỉ dựa vào vốn nớc ngoài.
Nếu nh trong giai đoạn đầu, khi đất nớc còn nghèo và cha phát triển, tỷ lệ vốn n-
ớc ngoài có thể cao, song toàn bộ quá trình CNH HĐH, cùng với quá trình
phát triển, tỷ lệ vốn nớc ngoài thờng thấp hơn so với vốn trong nớc. Nhng việc
đánh giá đúng vai trò và mối quan hệ giữa chiến lợc thu hút vốn trong nớc và
vốn nớc ngoài trong từng thời kỳ nhất định không phải là công việc đơn giản.
Xuất phát từ luận điểm trên, tôi xin trình bày một số biện pháp khuyến khích đầu
`
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét