Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Triển vọng hàng điện tử Việt nam

Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
+ Hàng điện tử có hàm lợng chất xám cao, cơ cấu sản phẩm luôn thay đổi,
trong đó dịch vụ và công nghệ phần mềm chiếm tỷ trọng cao.
+ Vòng đời của các sản phẩm điện tử rất ngắn, các sản phẩm nhanh chóng đợc
thay đổi, hoàn thiện bằng các sản phẩm mới. Công nghiệp điện tử là động lực thúc
đẩy và là cơ sở để thúc đẩy và phát triển nhiều lĩnh vực công nghệ khácdẫn đến
các thay đổi mang tính dây chuyền. Đây đợc coi là cơ sở của thời kỳ hậu công
nghiệp , chuyển sang kinh tế tri thức.
b.Về công nghệ:
+ Tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, chu kỳ sống của sản phẩm ngắn. Công
tác nghiên cứu và triển khai (R&D) là một trong những yếu tố quyết định sự thành
bại của các hãng lớn, ở đây khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
+ Phát triển công nghệ tích hợp cao cả về linh kiện và thiết bị.
+ Công nghệ thông tin và máy tính ngày càng tác động lớn đến sản xuất-kinh
doanh, cách làm việc và lối sống xã hội.
+ Điện tử -Tin học-Viễn thông-Tự động hoá ngày càng gắn kết với nhau trong
một sản phẩm hoặc hệ thống thiết bị.
+ Ngành công nghiệp điện tử cần lợng vốn đầu t lớn để đầu t cho sản xuất, thiết
kế sản phẩm, nghiên cứu triển khai, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân
lực có trình độ cao. Đồng thời do đặc tính kế thừa và tính bảo mật cao trong sản
xuất và nghiên cứu nên việc chuyển giao công nghệ rất hạn chế. Do đó hầu hết các
sản phẩm điện tử nổi tiếng đều tập hợp vào một số công ty, tập đoàn có tiềm lực
mạnh về vốn và công nghệ nh các nớc Mỹ, Nhật bản, EU và Hàn quốc.
c. Phân loại hàng điện tử:
Theo các chutên gia Việt nam, hàng điện tử có thể chia thành 7 nhóm sản
phẩm chính sau:
- Sản phẩm thiết bị điện tử dân dụng.
- Sản phẩm thiết bị tin học
- Sản phẩm thiết bị thông tin liên lạc
- Sản phẩm thiết bị điện tử công nghiệp và chuyên dụng
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
5
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
- Sản phẩm phần mềm và dịch vụ tin học
- Dịch vụ điện tử công nghiệp và chuyên dụng.
- Vật liệu, linh kiện, phụ kiện điện tử tin học
ở Việt nam, do nền công nghiệp điện tử thông tin mới phát triển trong những
năm gần đây nên chủ yếu phát triển lĩnh vực lắp ráp và đã bắt đầu sản xuất một số
linh kiện hàng điện tử, máy tính phục vụ cho nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, nh-
ng số lợng và quy mô còn hạn chế, hầu nh chỉ tập trung ở các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài. Còn lại, các sản phẩm thiết bị thông tin liên lạc và điện tử công
nghiệp và chuyên dụng thì còn phụ thuộc vào nhập khẩu.
2. Vài nét về bớc phát triển của ngành công nghiệp điện tử nớc ta trong
những năm qua.
Nhìn lại tình hình cả nớc từ những năm đầu thập kỷ 80 đến nay có thể thấy
rằng trong sự phát triển chung của nền kinh tế, ngành điện tử tin học nớc ta đã có
những bớc phát triển hết sức nhanh chóng
ở Hà nội cũng nh các tỉnh phía bắc, từ sau năm 1975 đến những năm đầu của
thập kỷ 80, các sản phẩm điện tử gia dụng vẫn còn đợc coi là sản phẩm quý
hiếm. Các gia đình có tivi (đa phần là loại tivi cũ mang từ miền nam ra),
radiocassete đã đợc coi là những gia đình thuộc loại khá giả. Ngành điện tử viễn
thông còn hết sức nhỏ bé, máy tính nhỏ trong cơ quan và gia đình hầu nh cha có,
càng không thể nói t nhân có điện thoại trong nhà.
Từ điểm xuất phát ban đầu là con số không, ngày nay ngành điện tử tin học
Việt nam đã hoàn toàn đổi khác. Ngành điện tử dân dụng với những dây chuyền
lắp ráp tivi đen trắng đầu tiên, hiện nay trong cả nớc đã có nhiều dây chuyền lắp
ráp tivi màu với những trang bị kỹ thuật tơng đối hiện đại cùng với những xí
nghiệp sản xuất linh kiện, phụ kiện điện tử, không những đáp ứng đủ cho nhu cầu
trong nớc mà còn để xuất khẩu. Số lợng khá lớn máy vi tính cũng đợc lắp ráp
trong nớc bằng linh kiện nhập ngoại. Cùng với sự ra đời của các liên doanh trong
ngành điện tử, một số loại linh kiện, phụ kiện quan trọng của hàng điện tử đã đợc
sản xuất trong nớc đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, lắp ráp của ngành cũng nh để
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
6
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
xuất khẩu. Ngành tin học phát triển với tốc độ đặc biệt nhanh chóng. Máy tính
điện tử mới đợc nhập vào Việt nam từ những năm 80 nhng đã tăng mạnh từ những
năm 90-91 trở lại đây. Ngày nay, máy vi tính đã đợc trang bị hết sức phổ biến
trong mọi cơ quan, trờng học, bệnh viên, xí nghiệp, viện nghiên cứu Không ít
gia đình t nhân cũng đã có máy vi tính. Hơn thế nữa, các hệ máy tính mới cũng đ-
ợc trang bị và dần thay thế các thế hệ máy cũ. Trong mấy năm gần đây, đã có
hàng trăm công ty tin học ra đời, trong đó, đa số là các công ty kinh doanh, dịch
vụ tin học, đồng thời cũng đã có một số công ty nghiên cứu, sản xuất phần mềm
và khai thác những phần mềm nhập ngoại nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển
của các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Việc Việt nam đã nối mạng Internet và có đợc lực
lợng để khai thác, phục vụ cho công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đã
chứng minh một bớc phát triển mới của ngành tin học Việt nam trên bớc đờng
phát triển và hội nhập. Ngày nay, việt nam đang đợc coi là quốc gia có ngành tin
học viễn thông tăng trởng với tốc độ cao nhất thế giới.
Một thành tựu rất quan trọng của ngành điện tử tin học nớc ta trong thời gian
vừa qua là sự tăng trởng rất nhanh chóng của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
trong lĩnh vực này. Nhiều cán bộ, nhất là cán bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực
phần mềm máy tính và điện tử viễn thông đã nhanh chóng tiếp cận, tiếp thu, khai
thác và hơn thế nữa phát huy phần đóng góp sáng tạo của mình vào những lĩnh vực
khoa học công nghệ tiên tiến nhất. Đây là một lợi thế rất quan trọng, thể hiện bản
chất thông minh của con ngời Việt nam và là nhân tố chính trong việc phát triển
ngành công nghiệp điện tử tin học ở nớc ta.
Rõ ràng, sau hơn 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới, trong thành tựu chung
của nền kinh tế nớc ta, ngành công nghiệp điện tử tin học đã đóng góp một phần
quan trọng. Bộ mặt ngành công nghiệp điện tử tin học nớc ta hoàn toàn đổi khác
chỉ trong vài năm gần đây.
II. Vai trò của hàng điện tử.
1. Vai trò của hàng điện tử đối với nền kinh tế quốc dân.
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
7
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Trong mấy thập kỷ qua, hàng điện tử đã đẩy nhanh quá trình tự động hoá trong
công nghiệp, giúp tối u hoá quá trình sản xuất, hợp lý hoá sử dụng tài nguyên, tạo
ra một năng suất và chất lợng mới. Đời sống văn hoá đã có những thay đổi lớn về
mọi mặt, cách thức và lề lối làm việc cũng đã có những chuyển biến về cơ bản Do
vậy, hàng điện tử có một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, đó là:
* Ngành công nghiệp sản xuất hàng điện tử là một ngành công nghiệp mũi
nhọn trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nớc trên thế giới. Công nghiệp điện tử
đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, trở thành cơ
sở Hạ tầng trong các lĩnh vực kinh tế-an ninh-quốc phòng của nhiều quốc gia.
* Hàng điện tử không chỉ góp phần làm tăng trởng kinh tế mà nó còn làm thay
đổi các mối quan hệ, sản xuất, kinh doanh, quản lý trong mọi lĩnh vực không chỉ
trong giới hạn một quốc gia, mà còn mang tính toàn cầu. Hiện nay có nhiều nguời
coi công nghệ điện tử và công nghệ thông tin là cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ hai, mang tính toàn cầu góp phần chuyển nền kinh tế thế giới sang giai đoạn
phát triển mới - nền kinh tế tri thức.
* Hàng điện tử đóng vai trò quan trọng vào tăng trởng kinh tế, thúc đẩy khoa
học, công nghệ, kỹ thuật phát triển, góp phần tăng nhanh giá trị gia tăng, đồng
thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ khác tạo thêm
nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động, nâng cao mức sống ngời dân.
* Đối với các nớc đang phát triển, trong đó có Việt nam thì sản xuất hàng điện
tử đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc.
* Giúp các nớc đang phát triển có cơ hội tham gia vào quá trình phân công sản
xuất và thơng mại toàn cầu, cung cấp một cách nhanh chóng và đầy đủ, chính xác
hơn các thông tin kinh tế dẫn đến thay đổi phơng thức thơng mại hàng hoá, dịch
vụ, khuyến khích và thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
* Hàng điện tử góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thông
qua chuyển đổi cơ cấu sản xuất các sản phẩm công nghiệp từ các hàng hoá thông
thờng giá trị gia tăng thấp sang sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao với
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
8
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
hàm lợng chính xác cao, giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
sẵn có ngày càng cạn kiệt.
* Hàng điện tử góp phần cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà n-
ớc trong mọi lĩnh vực.
* Tạo cơ sở hạ tầng giúp các nớc từng bớc tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức,
nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa các nớc đang phát triển với các nớc phát
triển.
2. Vai trò của hàng điện tử đối với an ninh quốc phòng.
Bảo vệ chủ quyền, an ninh là một vấn đề mang tính sống còn đối với bất cứ
quốc gia nào, trong đó các thiết bị điện tử tin học đóng một vai trò vô cùng
quan trọng. Để đối phó có hiệu quả với phơng tiện và vũ khí công nghệ cao của
đối phơng quân đội ta phải đọc trang bị phơng tiện điện tử tin học hiện đại,
chuyên dụng. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay không quốc gia nào có thể cung
cấp, viện trợ hoặc giúp đỡ các thiết bị điện tử tin học hiện đại để chống lại đối
phơng. Vì vậy, nhà nớc phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp điện tử tin học
để có thể tự mình, chủ động trang bị cho quân đội ta những thiết bị điện tử tin
học phù hợp với đặc điểm tác chiến của Việt nam. Đó là nhu cầu có tính chất cơ
bản, lâu dài của quân đội và quốc phòng đặt ra đối với công nghiệp điện tử nói
chung và cho mặt hàng điện tử nói riêng.
Các thiết bị điện tử tin học dùng trong quân đội rất phong phú, đa dạng
và đợc sử dụng rộng rãi trong các quân binh chủng: Không quân, Hải quân, Phòng
không, Thông tin và ở nhiều lĩng vực khác nhau nh:
+ Các phơng tiện chiến đấu (tên lửa có điều khiển. bom, mìn, đạn, pháo, cối
có điều khiển, thuỷ lôi, nh lôi và các hệ thống vũ khí có điều khiển khác).
+ Các phơng tiện trinh sát, dẫn đờng, điều khiển hoả lực và tích hợp phơng
tiện chiến đấu (rada các loại, các khí tài trinh sát, dẫn đờng, điều khiển bắn,
phóng ).
+ Các phơng tiện để chỉ huy, thông tin liên lạc (hệ thống tự động hoá chỉ
huy, các phơng tiện thông tin liên lạc: Vô tuyến điện, Viba )
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
9
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
+ Các phơng tiện huấn luyện, các phơng tiện đào tạo (mô phỏng, giả mục
tiêu, gỉa nhiễu ).
+ Các phơng tiện tác chiến điện tử (trinh sát, chế áp, gây nhiễu đối phơng )
và các phơng tiện chống nhiễu, an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin.
+ Các phơng tiện quản lý, điều hành (các mạng máy tính phục vụ thu thập
thông tin, quản lý, chỉ huy, điều hành, điều khiển dây chuyền sản xuất quốc
phòng, sửa chữa vũ khí trang bị quân sự ).
Sự vững mạnh về an ninh quốc phòng đối với một quốc gia là một yếu tố
quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời đem lại cho quốc gia đó một
vị thế vững chắc trên trờng quốc tế.
3. Vai trò của hàng điện tử đối với trật tự an toàn xã hội.
Trật tự an toàn xã hội của một quốc gia đợc xem nh yếu tố quan trọng không
kém sức mạnh về kinh tế và quân sự của nớc đó. Quốc gia nào duy trì đợc trật tự
an toàn xã hội tốt thì nền kinh tế mới tăng trởng đợc với tốc độ cao và bền vững
(thu hút đợc nhiều vốn FDI, ngành du lịch phát triển, tạo ra nhiều việc làm có thu
nhập cao ). Ngoài các chính sách hợp lý của nhà nớc, hàng điện tử cũng đóng
góp một phần không nhỏ vào việc tạo dựng, duy trì và củng cố an ninh, trật tự an
toàn xã hội nh:
+ Hàng điện tử tạo cho cuộc sống của nhân dân thêm nhiều tiện ích thông qua
việc tìm hiểu, tiếp thu các phong tục tập quán tốt đẹp không những của riêng đất
nớc mình mà còn ở trên thế giới qua đó có thể áp dụng những cái hay, cái đẹp vào
cuộc sống.
+ Hàng điện tử giúp cho ngời dân nắm bắt và hiểu rõ đợc các chính sách, quan
điểm mới của Đảng và nhà nớc một cách kịp thời, chính xác về mọi mặt kinh tế,
xã hội và quốc phòng.
+ Hàng điện tử đợc sử dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao cho công tác
quản lý, giám sát ở những nơi công cộng nh nhà ga, bến cảng, sân bay
+ Hàng điện tử là phơng tiện không thể thiếu của các cơ quan chức năng (ph-
ờng, xã, quận, huyện, trung ơng) để giải quyết công việc từ các công việc quản lý
nhân khẩu, tài sản đến việc phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trờng
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
10
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Đặc biệt, đối với ngành Công An, thiết bị điện tử có vai trò cực kỳ quan trọng
trong các công việc chuyên môn của ngành nh:
- Thu nhận thông tin của ngời dân từ khắp mọi nơi một cách nhanh chóng và
kịp thời.
- Phục vụ công tác giám định điều tra và truy cứu tội phạm hình sự
- Giúp cho việc theo dõi đối tợng, phạm nhân và chống trốn trại một cách hiệu
quả nhất.
- Hỗ trợ công tác điều tra, phơng án tác chiến của ngành đạt hiệu quả cao nhất.
III. Tình hình thị trờng hàng điện tử thế giới.
1. Tình hình cung trên thị trờng hàng điện tử thế giới.
1.1 Thiết bị điện tử dân dụng:
Thiết bị điện tử dân dụng (TBĐTDD) chiếm khoảng 9 - 10% tổng sản lợng
công nghiệp điện tử toàn cầu. Theo ý nghĩa ban đầu, TBĐTDD bao gồm các thiết
bị điện tử sử dụng trong đời sống sinh hoạt gia đình nh Radio, television (TV),
radiocassette (R/C), đầu video (V/C) Tuy nhiên, cùng với sự phổ cập hơn các
thiết bị chuyên dụng và thiết bị thông tin khác nh máy tính cá nhân (PC), máy
quay video, điện thoại cũng nh xu hớng phát triển của các thiết bị đa tính năng
(TV kết hợp với V/C, PC, điện thoại ) ở nhiều nớc, các thiết bị này cũng đợc xếp
vào nhóm TBĐTDD.
Vào những năm đầu 90, các nớc NlCs đã nổi lên nh những nhà cung cấp
TBĐTDD giá rẻ hàng đầu thế giới. Trong giai đoạn 1990-1992, trong khi sản xuất
TBĐTDD giảm bình quân l,4%/năm ở Nhật Bản và l,3%/năm ở Mỹ thì sản xuất
TBĐTDD của Hàn Quốc đạt tốc độ tăng bình quân 3,6%/năm, Trung Quốc
6,8%/1năm và Malayxia tới 33,4%/năm. Sản xuất TBĐTDD chiếm trên 30% tổng
sản lợng của ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc, 40% của Trung Quốc và trên
32% của ấn Độ Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, sản xuất TBĐTDD ở các n-
ớc đang phát triển phụ thuộc nhiều vào linh kiện nhập khẩu hoặc là luân chuyển
hàng hoá nội bộ trong công ty xuyên quốc gia (nh trờng hợp của Malaixia và Thái
Lan).
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
11
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Sản xuất TBĐTDD ở các nớc phát triển - Mỹ và Nhật Bản chuyển sang tập
trung vào các sản phẩm công nghệ cao - TV, V/C, VCD độ nét cao, thiết bị gia
dụng đa tính năng Vì vậy, xét về mặt giá trị sản lợng, TBĐTDD của Mỹ và Nhật
Bản vẫn giữ vị trí quan trọng trên thị trờng thế giới. Trong khi đó, sản xuất
TBĐTDD của các nớc Tây Âu có xu hớng gịảm cả về giá trị và tỷ trọng trong
toàn bộ ngành do sức cạnh tranh của sản phẩm thấp và mức bão hoà khá cao.
Trớc thập niên 90, các nớc Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu sản xuất khoảng 7l%
TBĐTDD toàn cầu (Nhật Bản - 40%, Tây Âu - 18% và Mỹ - 13%). Tuy nhiên,
sản xuất, đặc biệt là khâu lắp ráp các thiết bị nghe nhìn đang có xu hớng chuyển
dịch sang các nớc khác ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng. Doanh số bán hàng
bán dẫn điện tử toàn cầu năm 2002 phục hồi sau một thời gian giảm sút đã đạt
khoảng 141 tỷ USD, tăng khoảng 1,8 % và sẽ có thể tăng mạnh trong những năm
tiếp theo.
1.2 Thiết bị tin học:
Thị trờng máy tính là một trong những lĩnh vực chủ yếu của thị trờng thiết
bị tin học, trong đó Mỹ là quốc gia giữ vai trò chi phối, cung cấp khoảng 96%
tổng lợng CPU trên thị trờng thế giới. Tuy nhiên, hầu hết các bộ phận khác của
máy tính cá nhân đợc sản xuất tại các nớc khác, chủ yếu là ở châu á. Châu á
đang trở thành trung tâm của ngành công nghiệp máy tính do chi phí sản xuất thấp
hơn. Hầu hết các hãng sản xuất PC lớn - IBM, COMPAQ, AST, HP đã thiết lập
các nhà máy lắp ráp PC tại Châu á và xuất khẩu trở lại các nớc Âu, Mỹ. Các nớc
Châu á hiện đã trở thành khu vực cung cấp chủ yếu nhiều loại cấu kiện PC: 80%
cấu kiện PC của Seagate Technology đợc sản xuất tại Thái Lan, Singapore và
Malaysia. Đài Loan sản xuất 80% bộ mạch chủ PC; Nhật Bản chi phối 90% màn
hình tinh thể lỏng cho PC lu động; Singapore đang đứng đầu về sản xuất ổ cứng và
có tới 50% PC của Apple bán trên thế giới đợc sản xuất tại nớc này.
Xu hớng chung của phần cứng tin học và viễn thông là nhanh hơn, nhỏ hơn,
tiện lợi hơn và rẻ hơn. Riêng giá máy tính bình quân hàng năm giảm 40-50%
trong 5 năm gần đây.
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
12
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Hiện nay PC đang có dấu hiệu trở thành hàng tiêu dùng phổ thông. Đặc tr-
ng của sản xuất máy tính là gia tăng mức độ tiêu chuẩn hoá nhằm tạo nên sự tơng
thích của tất cả các loại máy, từ nhỏ nhất đến máy lớn đa năng. Cạnh tranh trên thị
trờng ngày càng trở nên gay gắt mà trớc hết là giữa các hãng của Mỹ nh IBM,
Compaq, Apple, DEL, Hewlett Packard và sau đó là Toshiba, NEC, Bull, Acer
Các hãng đều cố gắng giảm chi phí từ khâu sản xuất đến phơng thức bán hàng, cải
tạo hệ thống bán lẻ, đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Nếu tính cả các dịch vụ thì phần mềm và phần cứng đạt đợc sự thăng bằng
vào năm 199 l, nhng từ năm l 992 giá trị phần mềm và dịch vụ lớn hơn phần cứng
và mức chênh lệch này ngày càng cao. Việc giảm giá bán các loại máy tính kéo
theo sự giảm giá của các phần mềm. Mỹ cũng là nớc chi phối thị trờng phần mềm
với 6/1O hãng cung cấp phần mềm lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, thị trờng
phầnmềm hiện đã có sự tham gia của một số nớc đang phát triển nh Đài Loan,
Philippin và đặc biệt là ấn độ
1.3 Linh kiện điện tử:
Nhu cầu chuyển dịch sản xuất các loại linh kiện thông thờng từ Mỹ và Nhật
Bản sang khu vực có chi phí sản xuất thấp cũng nh các chính sách khuyến khích
nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, tự sản xuất linh kiện ở các nớc khác thuộc Châu á-Thái
Bình Dơng đã tạo điều kiện cho khu vực này phát triển nhanh chóng. Sản xuất linh
kiện của Hàn quốc trong giai đoạn 1990- 1994 đạt tốc độ tăng bình quân 5,
15%/năm (so với tốc độ 2,6%/năm của loàn ngành điện tử), Trung quốc 12, l 5%/
năm (so với l0,5% năm của toàn ngành điện tử).
Một đặc điểm của sản xuất điện tử ở các nớc Châu á là định hớng vào lĩnh
vực sản xuất linh kiện và cụm linh kiện, ví dụ nh các DRAM. Trong điều kiện giá
DRAM và các linh kiện rời giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ giảm trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế, nhiều công ty Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ đã dừng không
tiếp tục đầu t vào lĩnh vực sản xuất này trong khi các nhà sản xuất ở khu vực Châu
á (Thái Lan, Inđônêxia ) vẫn giữ đợc sức cạnh tranh về giá và trở thành những n-
ớc sản xuất và xuất khẩu lớn về nhóm sản phẩm này.
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
13
Khoá luận tốt nghiệp Triển vọng hàng điện tử Việt nam
Một bộ phận cơ bản của thị trờng linh kiện điện tử là linh kiện bán dẫn. Có
thể nói, linh kiện bán dẫn là nền tảng của công nghiệp điện tử với tỷ trọng ngày
càng tăng trong tổng giá trị thiết bị điện tử (khoảng 50% trị giá linh kiện điện tử
nói chung).
Đặc trng của ngành sản xuất linh kiện bán dẫn là lính tập trung cao. Năm
1994, l0 công ty hàng đầu thế giới kiểm soát tới 54,6% thị trờng linh kiện bán dẫn,
trong đó, đứng đầu là Intel, NEC và Toshiba. Tới năm 1998, Intel, NEC và
Motorola vẫn kiểm soát tới 27,9% thị trờng bán dẫn toàn cầu.
Cũng nh sản xuất TBĐTDD và máy tính, sản xuất linh kiện bán dẫn đang đ-
ợc chuyển dịch dần sang các nớc NlCs và một số nớc Châu á khác xuất phát từ
nhu cầu cạnh tranh về giá cả. Tuy nhiên, trong những năm tới, Nhật Bản và Mỹ
vẫn là những nớc đứng đầu về cung cấp các sản phẩm bán dẫn, mặc dù tỷ trọng
của hai nớc này trong tổng sản lợng bán dẫn toàn cầu có xu hớng giảm đi trong
khi tỷ trọng của các nớc Châu á - Thái Bình Dơng khác tăng lên cùng với xu hớng
chuyển dịch sản xuất các thiết bị đơn lẻ sang khu vực thị trờng này. Theo Hiệp hội
Công nghiệp bán dẫn (SIA), doanh số bán chíp bán dẫn toàn cầu trong tháng 8
năm 2002 đạt 11,9 tỷ USD, tăng 2,2% so với tháng 7/2002 và tăng 14% so với
tháng 8/2001. Đây là mức tăng 2 chữ số đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tồi tệ
nhất của ngành công nghiệp này trong năm 2001. Doanh số bán chíp ở Mỹ, EU và
Nhật bản giảm lần lợt khoảng 12%, 9% và 7,5% trong năm 2002, song lại tăng
mạnh tới 30% ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng. Điều này cho thấy các hoạt
động sản xuất chế tạo của ngành đang có xu hớng chuyển sang khu vực này.
2. Tình hình cầu trên thị trờng hàng điện tử thế giới
2.1 Thiết bị điện tử dân dụng:
Về cơ cấu thị trờng, Mỹ là nớc đứng đầu về tiêu thụ TBĐTDD, thứ hai là
Nhật bản, tiếp theo là Đức, Anh và Pháp. Một xu hớng nổi bật trong tiêu thụ
TBĐTDD là số lợng thiết bị tăng mạnh nhng giá thiết bị giảm đáng kể (20 - 40%
trong 5 năm qua, tuỳ loại thiết bị).
Tô Mạnh Cờng TC18/A2
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét