Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
Thứ nhất, nghiên cứu môi trường quốc tế để xác định các cơ hội và thách
thức đối với xuất khẩu của doanh nghiệp. Thông qua nghiên cứu thị trường
doanh nghiệp có thể phát hiện ra các nhu cầu mong muốn của khách hàng và
thiết lập các kế hoạch cung cấp sản phẩm, dịch vụ thoả mãn các nhu cầu đó. Mục
tiêu của nghiên cứu thị trường là tìm kiếm khách hàng cho doanh nghiệp đồng
thời dự báo được các xu hướng vận động của thị trường. Nghiên cứu thị trường
xuất khẩu bao gồm nghiên cứu môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Các
thông tin thu thập được trong quá trình phân tích, dự báo sẽ giúp doanh nghiệp
tìm kiếm các cơ hội kinh doanh.
Thứ hai, xác định rõ các qui định về luật pháp của thị trường nước ngoài có
liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là yếu tố vô cùng
quan trọng thể hiện sự hiểu biết và chính sách phát triển của các quốc gia trong
quan hệ thương mại quốc tế. Mỗi quốc gia sẽ có những chính sách khuyến khích
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu khác nhau, hàng rào đối với nhập khẩu của họ
cũng rất khác nhau.
Thứ ba, sự thay đổi của các yếu tố trong môi trường kinh doanh quốc tế.
Các yếu tố này thay đổi theo từng quốc gia, từng khu vực địa lý, có sự khác biệt
giữa các quốc gia. Vì vậy phân tích và dự báo xu hướng thay đổi của các yếu tố
này có ảnh hưởng tới việc xây dựng các chính sách marketing hỗn hợp của
doanh nghiệp.
Sự khác biệt giữa môi trường quốc tế và môi trường nội địa đòi hỏi các
doanh nghiệp xuất khẩu phải có tổ chức riêng biệt để nghiên cứu Marketing xuất
khẩu, coi đây như là một công cụ để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ra thị trường
quốc tế.
2.2 Vai trò của marketing xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong ngoại thương, mang lại nhiều giá trị
cho mỗi quốc gia xuất khẩu. Chủ thể tham gia vào các quan hệ trao đổi buôn bán
quốc tế rất đa dạng, bao gồm các công ty, doanh nghiệp ở nhiều quốc gia, nhiều
khu vực khác nhau. Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường kinh
tế, môi trường văn hoá, chính trị xã hội,…. Nhu cầu mong muốn của khách hàng
5
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
nước ngoài cũng rất khác biệt so với các khách hàng trong nước. Việc nắm bắt
các nhu cầu khách hàng giúp doanh nghiệp xác định nên sản xuất các sản phẩm
gì, sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Marketing xuất khẩu là hoạt động
nhằm giúp doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là ai? Nhu cầu
mong muốn của họ là gì? Kì vọng của họ vào các sản phẩm đó là gì? Để trả lời
các câu hỏi này các doanh nghiệp phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu
Marketing để tìm hiểu các thông tin cần thiết từ phía khách hàng, bằng nhiều
phương tiện thu thập thông tin khác nhau, tổ chức sản xuất sản phẩm nhằm đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, đồng thời tổ chức phân phối sản phẩm từ trong
nước ra nước ngoài. Marketing xuất khẩu là cầu nối giữa doanh nghiệp với
khách hàng là người tiêu dùng ở các quốc gia khác. Marketing xuất khẩu đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, lấy
khách hàng làm điều kiện tiên quyết cho mọi quyết định kinh doanh.
2.3 Mục tiêu của Marketing xuất khẩu
Mỗi doanh nghiệp xuất khẩu đều đặt ra những mục tiêu chiến lược kinh
doanh nhất định nhằm đưa các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát
triển và hội nhập do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân
lực và các tài nguyên thiên nhiên,… dẫn đến sự khác biệt về thế mạnh trong các
lĩnh vực khác nhau của các quốc gia. Để tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản
xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi các loại hàng hoá cho
nhau. Tuy nhiên xuất khẩu không phải chỉ diễn ra các quốc gia có lợi thế về lĩnh
vực này hay lĩnh vực khác mà ngay cả khi quốc gia đó không có lợi thế vẫn có
thể thu được lợi ích khi tham gia vào các hoạt động xuất khẩu. Cơ sở lợi ích của
hoạt động xuất khẩu được chứng minh qua lý thuyết so sánh tương đối. Theo lý
thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác
trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia
vào hoạt động xuất khẩu để tạo ra lợi ích cho mình bằng việc chuyên môn hoá
vào sản xuất những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và trao
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
đổi với các quốc gia khác, đồng thời nhập khẩu loại hàng hoá không có lợi thế so
sánh.
Mục tiêu của Marketing xuất khẩu là tìm kiếm các khách hàng cho doanh
nghiệp xuất khẩu. Để xác định mục tiêu Marketing xuất khẩu, người ta thường
đặt ra các câu hỏi sau:
- Doanh nghiệp quyết định những thị trường nào cần thâm nhập? Nhóm
khách hàng của họ là ai?
- Doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng bằng cách nào? Làm thế nào
để thu hút được khách hàng?
- Mục tiêu về thị phần của doanh nghiệp là bao nhiêu?
- Các quyết định về chương trình Marketing xuất khẩu như thế nào?
II- Nội dung chủ yếu của Marketing xuất khẩu
1. Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường, lựa chọn đối tác
1.1 Nghiên cứu thị trường
Môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia có những sự khác biệt và thay đổi
theo thời gian. Có những quốc gia ổn định về chính trị, về kinh tế nhưng cũng có
những quốc gia bất ổn về an ninh chính trị, kinh tế kém phát triển. Việc tìm hiểu,
phân tích môi trường bên ngoài sẽ giúp doanh nghiệp so sánh, lựa chọn được
quốc gia, thị trường để tiến hành các hoạt động kinh doanh phù hợp. Doanh
nghiệp có thể lựa chọn các quốc gia trong khu vực có tương đồng về văn hoá
hoặc các quốc gia phương tây rất phát triển về kinh tế để tiến hành các hoạt động
kinh doanh. Tuy nhiên căn cứ để có thể lựa chọn được thị trường kinh doanh phù
hợp thì doanh nghiệp phải phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh bao gồm
môi trường địa lý, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, công nghệ… Việc phân
tích này phải toàn diện và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nghiên cứu một
cách tổng quát thị trường nhằm xác định các thị trường tiềm năng phù hợp với
mục tiêu và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm giảm bớt sự phân tán
của doanh nghiệp trong việc quyết định lựa chọn thị trường kinh doanh xuất
khẩu. Nội dung nghiên cứu cụ thể về thị trường bao gồm: nghiên cứu khách
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
hàng, nghiên cứu hàng hoá và xác định quy mô, đặc tính thị trường, đối thủ cạnh
tranh.
- Khách hàng là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Khách hàng
thường có những nhu cầu và mong muốn rất đa dạng, phong phú cho nên việc
nắm bắt và phát hiện ra các nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng là
rất quan trọng. Doanh nghiệp không thể tồn tại được nếu không biết khách hàng
của mình là ai, họ như thế nào? Nhu cầu, mong muốn của họ là gì? Sản phẩm có
hai đặc tính đó là: tính giá trị và tính giá trị sử dụng. Nếu thiếu một trong hai đặc
tính đó thì không được gọi là sản phẩm. Vì vậy sản phẩm làm ra phải có người
tiêu dùng. Mục tiêu của nghiên cứu khách hàng là hiểu biết về thói quen mua
hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng, lượng cầu, thị hiếu của
khách hàng,….
- Nghiên cứu hàng hoá: là việc xác định các thuộc tính về sản phẩm mà
khách hàng có nhu cầu như tính năng sử dụng, chất lượng, mẫu mã, bao bì, đóng
gói,… Thông qua nghiên cứu thị trường, phát hiện và nắm bắt nhu cầu, mong
muốn của người tiêu dùng mà doanh nghiệp xác định nên sản xuất những mặt
hàng gì để đáp lại các nhu cầu đó.
- Xác định quy mô thị trường: thị trường kinh doanh quốc tế có quy mô lớn
hơn so với thị trường nội địa. Việc nghiên cứu quy mô thị trường giúp doanh
nghiệp xác định được cung cầu tổng quát của thị trường, phần thị trường nào mà
doanh nghiệp có thể tham gia cung ứng.
Nghiên cứu thị trường để xác định tổng cầu, thị hiếu, các yếu tố quyết định
hành vi tiêu dùng và phản ứng của khách hàng trước các nỗ lực Marketing của
doanh nghiệp xuất khẩu. Thông tin thị trường có thể ở dạng sơ cấp hoặc thứ cấp.
Phương pháp nghiên cứu thị trường bao gồm nghiên cứu tại bàn hoặc
nghiên cứu tại hiện trường:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn tức là nghiên cứu tại văn phòng, thông qua
các phương tiện truyền thông đặc biệt là thông qua internet để thu thập các thông
tin sơ bộ về thị trường.
8
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường là phương pháp nghiên cứu trực
tiếp bằng cách tiếp cận trực tiếp với thị trường, có thể kiểm chứng kết quả
nghiên cứu sơ bộ và cung cấp nhiều thông tin chi tiết về thị trường.
Kết quả nghiên cứu thị trường được tổng hợp lại và thông qua phân tích, xử
lý các nhà làm Marketing sẽ lên kế hoạch và hoạch đinh các chiến lược
Marketing phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình.
1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Sau khi doanh nghiệp có được những thông tin cần thiết về thị trường xuất
khẩu thì bước tiếp theo là doanh nghiệp phải lựa chọn thị trường nào phù hợp với
khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp nhất. Thị trường nước ngoài rất phức tạp
và đa dạng cho nên cần phải phân đoạn thị trường để tìm ra thị trường mục tiêu.
Phân đoạn thị trường là chia những người tiêu dùng thành từng nhóm có
chung những yêu cầu giống nhau. Mục đích của phân đoạn thị trường là thống
nhất các đoạn thị trường để tập trung nguồn lực, giúp doanh nghiệp hiểu rõ cơ
cấu người tiêu dùng trên thị trường, tối đa hoá lợi nhuận trên một đơn vị sản
phẩm. Phân đoạn thị trường có thể dựa vào các yếu tố là địa lý, tâm lý, hành vi
người tiêu dùng, nhân khẩu học,…
Mục tiêu của phân đoạn thị trường là lựa chọn phân khúc thị trường mà
doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên đoạn thị
trường đó hay chính là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp.
Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu là:
tập trung những người tiêu dùng có cùng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, lượng
cầu phù hợp với khả năng cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp, đảm bảo được
mục tiêu về doanh số, lợi nhuận, thị trường đó có triển vọng phát triển, việc thâm
nhập thị trường không quá khó khăn, rào cản gia nhập thị trường thấp. Trên cơ
sở phân tích và đo lường các kết quả của từng phân đoạn thị trường, doanh
nghiệp sẽ có ý tưởng kinh doanh phù hợp với thị trường mục tiêu. Nhờ xác định
rõ khách hàng của mình là ai, nhu cầu, mong muốn của họ như thế nào, thói
quen mua sắm và các yếu tố nào có thể tác động đến quyết định mua sắm của
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
người tiêu dùng nên doanh nghiệp có thể tập trung nguồn lực và xây dựng các kế
hoạch để đạt được các mục tiêu về lợi nhuận.
1.3 Nghiên cứu bạn hàng
Nghiên cứu bạn hàng là hoạt động nghiên cứu tìm hiểu về các nhà trung
gian phân phối để tiến hành đưa sản phẩm ra thị trường. Các đối tác phải đảm
bảo độ tin cậy cao thì mới có thể tiến tới hợp tác làm ăn kinh doanh. Đối tác
càng có uy tín và thiện chí thì khả năng thực hiện hợp đồng càng cao và có thể
thiết lập các quan hệ làm ăn lâu dài. Khi đánh giá đúng về đối tác, doanh nghiệp
có thể xác định rõ các yêu cầu cần thoả thuận để đưa vào hợp đồng và hoàn
thành nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ để lựa chọn đối tác là:
Khả năng thanh toán: đối tác có tiềm lực về tài chính và khả năng thanh
toán nhanh chóng thì càng thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm các chi phí đi lại và
thu hồi vốn nhanh
Chức năng, quyền hạn của đối tác: đối tác có quyền hạn và chức năng cao
hơn của doanh nghiệp thì khả năng đàm phán và các ưu thế sẽ nghiêng về phía
đối tác hơn. Trong kinh doanh, yếu tố giao dịch và đàm phán rất quan trọng.
Doanh nghiệp cần xác định các lợi thế của mình trong các cuộc đàm phán để
giành phần thắng lợi.
Uy tín của đối tác trên thị trường: đây là tiêu chí quan trọng để quyết định
hợp tác làm ăn. Đối tác có uy tín trên thị trường chứng tỏ họ được nhiều nhà sản
xuất tin tưởng và hợp tác. Doanh nghiệp có thể lựa chọn những đối tác đã có uy
tín và kinh nghiệm trên thị trường để đảm bảo làm ăn lâu dài.
Tinh thần thiện chí: doanh nghiệp phải xem xét thái độ của đối tác có sẵn
sàng liên kết, hợp tác hay không. Vì như vậy hai bên sẽ dễ dàng trao đổi và thảo
luận các vấn đề mà cả hai cùng có lợi, giảm bớt các tranh chấp, tiết kiệm thời
gian và chi phí.
2. Xây dựng chiến lược marketing xuất khẩu
2.1 Xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu
10
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
Doanh nghiệp sau khi tiến hành nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị
trường mục tiêu thì sẽ xác định các mục tiêu chiến lược Marketing phù hợp với
khả năng của doanh nghiệp mình. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng sản phẩm,
chu kỳ sống của sản phẩm, khả năng tài chính của doanh nghiệp, loại hình doanh
nghiệp, phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp xác định các mục tiêu Marketing
phù hợp. Các chiến lược Marketing nhằm mục đích tạo ra sự khác biệt cho sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường và định vị thương hiệu. Sự khác
biệt của sản phẩm là yếu tố dẫn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Nhất là
trong điều kiện nền kinh tế hội nhập như ngày nay, sản phẩm nào có khả năng
cạnh tranh là sản phẩm đó có khả năng tồn tại và hấp dẫn thị trường. Các yếu tố
để tạo nên sự khác biệt của sản phẩm bao gồm chất lượng, tính năng công dụng,
uy tín, kiểu dáng, bao bì, mẫu mã, thời gian giao hàng, các dịch vụ khách hàng,
… Doanh nghiệp phải so sánh với các đối thủ cạnh tranh để tìm ra các điểm khác
biệt này và xem xét nguồn lực của doanh nghiệp mình để xây dựng các chiến
lược cạnh tranh một cách hữu hiệu nhất. Có rất nhiều chiến lược Marketing mà
doanh nghiệp có thể lựa chọn, đó là:
+ Chiến lược định hướng phát triển chuỗi giá trị
+ Chiến lược thương hiệu
+ Chiến lược giá trị khách hàng
+ Chiến lược Marketing hỗn hợp
+ Chiến lược con người
+ Chiến lược sản xuất và cung cấp
+ Chiến lược hỗ trợ kỹ thuật
+ Chiến lược tài nguyên,….
Trong đó, chiến lược Marketing hỗn hợp được các doanh nghiệp áp dụng
nhiều hơn cả. Chiến lược này là sự kết hợp của các yếu tố 4P: Product - sản
phẩm, Price – giá cả, Place- phân phối, Promotion – xúc tiến. Ngoài ra, chiến
lược Marketing hỗn hợp ngày càng mở rộng, không chỉ là 4P mà là 7P để phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế mới của các quốc gia trên thế giới. Tuỳ thuộc
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
vào nguồn lực của từng doanh nghiệp mà áp dụng các chiến lược Marketing hỗn
hợp sao cho hiệu quả nhất.
2.2 Hoạch định chiến lược Marketing hỗn hợp
2.2.1 Chiến lược sản phẩm
Sản phẩm xuất khẩu là mọi thứ có thể thoả mãn nhu cầu mong muốn của
khách hàng nước ngoài. Sản phẩm xuất khẩu có thể là sản phẩm hữu hình hoặc
sản phẩm vô hình như dịch vụ, bằng sáng chế, thương hiệu,… Chu kỳ sống của
sản phẩm gồm bốn giai đoạn là: giới thiệu, phát triển, tăng trưởng và suy thoái.
Với mỗi giai đoạn của sản phẩm lại có một chiến lược tương ứng.
Nội dung marketing sản phẩm:
* Thích nghi sản phẩm
Doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm phù hợp với các điều kiện, nhu cầu của
khách hàng ở thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Mức độ thích nghi của sản
phẩm bao gồm:
- Sản xuất theo mẫu mã phù hợp với nhu cầu, sở thích của từng khu vực
- Sản xuất theo mẫu mã của từng nước
- Sản xuất sản phẩm theo mẫu mã của từng địa phương của từng nước.
- Sản xuất theo các mẫu mã cho người bán lẻ.
* Phát triển sản phẩm mới
Quyết định phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp là quyết định tạo ra
sản phẩm hoàn toàn mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Phát triển sản phẩm
mới là khả năng sáng tạo của các nhà làm marketing, làm ra những sản phẩm
mang tính đột phá trên thị trường. Sản phẩm mới có thể mang lại những giá trị
cao cho doanh nghiệp trong tương lai hoặc tạo ra uy tín cho doanh nghiệp trên
thị trường quốc tế.
* Cải tiến sản phẩm
Khi sản phẩm đã được khách hàng nước ngoài chấp nhận sử dụng thì đến
một lúc nào đó tính năng của nó không còn phù hợp với nhu cầu mong muốn của
khách hàng nữa. Và như vậy, sản phẩm đó đòi hỏi phải được cải tiến để thu hút
khách hàng tiếp tục sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp. Sản phẩm cần cải
12
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
tiến cho mới hơn so với hình ảnh cũ chỉ cần một số thay đổi như bao bì đóng gói,
chất lượng sản phẩm, nâng cao tính năng sản phẩm, ….
* Loại bỏ sản phẩm
Những sản phẩm không còn phù hợp với thị trường và không có khả năng
tạo ra doanh thu lợi nhuận nữa kể cả khi nó đã được cải tiến thay đổi mẫu mã thì
doanh nghiệp phải xem xét đến việc loại bỏ nó. Việc này đòi hỏi phải có sự theo
dõi thường xuyên về tình hình tiêu thụ sản phẩm để nhanh chóng đưa ra các
quyết định marketing phù hợp.
* Cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu: quyết định cơ cấu sản phẩm để
xuất khẩu phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng
tới quy mô thị trường và doanh thu của doanh nghiệp.
* Nghiên cứu bao bì nhãn mác sản phẩm: bao bì là một trong những thành
phần cấu tạo nên giá thành sản phẩm. Bao bì thực hiện ba chức năng cơ bản là:
bảo vệ sản phẩm, thông tin sản phẩm, quảng cáo cho sản phẩm. Công tác nghiên
cứu bao bì nhãn mác được thực hiện để thích ứng với nhu cầu của thị trường
quốc tế. Việc thiết kế bao bì phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội
và thẩm mỹ của khách hàng.
2.2.2 Chính sách giá cả sản phẩm quốc tế
Việc định giá sản phẩm quốc tế thực chất không khác so với định giá sản
phẩm trên thị trường nội địa. Nội dung của chính sách giá cả trong marketing
xuất khẩu bao gồm:
- Xác định giá sản xuất sản phẩm
- Xác định các điều kiện để định giá bán cho sản phẩm ở từng phân đoạn thị
trường
- Xác định giá cả của từng phân đoạn thị trường
- Xác định giá mối quan hệ giữa giá sản phẩm chủ đạo trong các chủng loại
sản phẩm của doanh nghiệp
- Các yếu tố khác ảnh hưởng tới chính sách giá sản phẩm quốc tế
Khi định giá sản phẩm trong xây dựng chiến lược marketing thì doanh
nghiệp phải tính đến các yếu tố có ảnh hưởng tới giá cả như là chi phí sản xuất,
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
nhu cầu thị trường, cạnh tranh, luật pháp và chính trị. Trong mỗi chu kì sống của
sản phẩm lại có một mức giá khác nhau. Vì vậy tuỳ theo từng chu kì của sản
phẩm mà doanh nghiệp có mức giá thích hợp với các mục tiêu kinh doanh của
mình.
2.2.3 Chính sách phân phối
Phân phối là một công đoạn trong tái sản xuất kinh doanh, là cầu nối giữa
nhà sản xuất trong nước với người tiêu dùng nước ngoài. Tuỳ thuộc vào tính chất
của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tổ chức các kênh phân phối khác nhau.
Chẳng hạn như với sản phẩm tiêu dùng, người sản xuất có thể tổ chức kênh phân
phối trực tiếp, sản phẩm được bán trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua các
cửa hàng của người sản xuất. Với sản phẩm là tư liệu sản xuất thì có thể lựa chọn
kênh phân phối gián tiếp tức là hàng hoá được bán cho các cửa hàng, đại lý,
người bán buôn, bán lẻ, rồi mới bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng. Việc lựa
chọn các kênh phân phối còn phụ thuộc vào yếu tố văn hoá, cơ sở hạ tầng của
nước nhập khẩu.
2.2.4 Chính sách khuyếch trương
Khuyếch trương hay truyền thông Marketing bao gồm ba hoạt động chủ yếu
là quảng cáo, yểm trợ sản phẩm và xúc tiến. Các hoạt động này nhằm mục tiêu
cung cấp và truyền các thông tin cần thiết về sản phẩm cho khách hàng và nhà
cung cấp. Khuyếch trương trong Marketing quốc tế là sự truyền thông tin giữa
các nền văn hoá khác nhau. Các chính sách để khuyếch trương phải đặc biệt
quan tâm tới yếu tố văn hoá. Mục tiêu của các doanh nghiệp là mở rộng thị
trường, ít tốn kém về chi phí vì vậy các hoạt động xúc tiến diễn ra ở các đoạn thị
trường có sự tương đồng về văn hoá sẽ dễ thực hiện và tiết kiệm chi phí hơn cho
các doanh nghiệp.
Nội dung các hoạt động khuyếch trương gồm có: quảng cáo, hỗ trợ khách
hàng, hội chợ triển lãm, trưng bày sản phẩm,… Với sản phẩm may mặc, hoạt
động quảng cáo rất quan trọng. Mặt hàng này thường xuyên thay đổi theo thời
gian, theo mùa, theo vùng, …nên quảng cáo trên internet, trên báo, tạp chí sẽ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét