Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Lợi nhuận và một số giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Đường sắt Hà Nội

Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
nên chỉ tiêu lợi nhuận không chỉ đánh giá đợc quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh đã qua của doanh nghiệp mà còn hé mở phần nào khả năng phát
triển trong tơng lai của doanh nghiệp đó.
Tuy nhiên, chỉ tiêu lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá
chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì có còn có những
hạn chế nhất định.
Trớc hết, do tính chất tổng hợp của mình, chỉ tiêu lợi nhuận chỉ phản ánh
kết quả của tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh Scủa
doanh nghiệp. Nhng kết quả này chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố lại ảnh hởng
ngợc chiều nhau nh sản lợng và giá thành, do đó chúng bù trừ cho nhau, che lấp
lẫn nhau. Kết quả là chúng ta vẫn cha thể đánh giá chính xác sự tác động của
từng yếu tố đến lợi nhuận thu đợc và do vậy cha thể đánh giá chính xác hiệu
quả cũng nh trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.
Mặt khác lợi nhuận là một chỉ tiêu tuyệt đối, nó chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi
đợc xem xét trong một điều kiện cụ thể nhất định( của một doanh nghiệp cụ thể
trong một thời kỳ cụ thể ).
Chỉ tiêu này cha phản ánh đợc toàn diện mối tơng quan giã yếu tố đầu vào
và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất(tình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp)
cha thể dùng để so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
các thời kỳ khác nhau hay so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các
doanh nghiệp trong cùng một thời kỳ vì không có cùng mặt bằng so sánh về
vốn, về điều kiện công nghệ, thiết bị sản xuất, thị trờng tiêu thụ
Do đó, đánh giá một cách toàn diện và chính xác vấn đề lợi nhuận mà
rộng hơn là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngời ta còn xem
xét các yếu tố ảnh hởng đến lợi nhuận và sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận hay
còn gọi là doanh lợi.
1.1.2.Tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận, là một chỉ tiêu tơng đối cho phép ta so sánh hiệu quả
sản xuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp, giữa
thực tế với kế hoạch hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một thời kỳ.Tỷ
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
suất lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh càng
có hệu quả.
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách chứa đựng một nội
dung kinh tế khác nhau, thông thờng các doanh nghiệp sử dụng các chỉ tiêu tỷ
suất lợi nhuận sau đây: Tỷ suất lợi nhuận vốn, tỷ suât lợi nhuận giá thành, tỷ
suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ.
Tỷ suất lợi nhuận vốn.
Tỷ suất lợi nhuận vốnlà quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt đợc(lợi nhuận
trớc thuế hoặc lợi nhuận ròng) với số vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong
kỳ. Công thức xác định nh sau:
T
sv
(%) =
Vbq
P(Pr)
x100%
Trong đó:
T
sv
: Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi vốn)
P(P
r
):Lợi nhuận (lợi nhuận ròng) trong kỳ.
V
bq
: Tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân.
V
bq
=
2
VckkV +
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lu động:
Vốn cố định
=
Nguyên
giá TSCĐ
-
Số tiền khấu hao
luỹ kế đã thu hồi
Vốn lu động bao gồm vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phảm dở dang, bán
thành phẩm tự chế, vốn thành phẩm
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn phản ánh: Cứ mỗi đồng vốn kinh doanh
bình quân trong kỳ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận(lợi nhuận ròng).
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất, thể hiện trình độ sử dụng tài sản, vật t,tiền
vốn của doanh nghiệp, thông qua đó thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm và phát
huy những khả năng tiềm tàng của mình nhằm quản lý và sử dụng vốn có hiệu
quả cao.
Tỷ suất lợi nhuận giá thành.
Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ (trớc
thuế hoặc sau thuế) so với giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong
kỳ của doanh nghiệp. Nó có thể tính riêng cho từng loại sản phẩm hoặc tính
chung cho toàn bộ sản phẩm tiêu thụ.
Công thức xác định nh sau:
T
sg
(%) =
Zt
P(Pr)
x100%
Trong đó:
Tsg : Tỷ suất lợi nhuận giá thành(doanh lợi giá thành).
P(Pr): Lợi nhuận(lợi nhuận ròng) trong kỳ.
Zt : Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng chi phí bỏ ra cho sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm dịch vụ trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Thông qua đó,
có thể thấy rõ hiệu quả của việc bỏ chi phí vào sản xuất và tiêu thụ nh thế nào.
Tỷ suất này càng câo chứng tỏ việc đầu t của doanh nghiệp càng có hiệu quả.
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trớc hoặc sau
thuế với doanh thu tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, hàng hoá trong kỳ của doanh
nghiệp.
Công thức xác định nh sau:
Tst(%) =
Dt
P(Pr)
x 100%
Trong đó:
Tst(%) : Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng.
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
P(Pr) : Lợi nhuận(lợi nhuận ròng) trong kỳ.
Doanh thu : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm dịch vụ trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong
kỳmang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ hoạt động
sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp càng có
hiệu quả.
Việc sử dụng các chỉ tiêu ở trên đã giúp thực hiện đợc sự so sánh về hiệu
quả sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp có mựt bằng sản xuất kinh
doanh khác nhau, so sánh giữa chất lợng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
với mức trung bình của nghành Trên cơ sở đó, có thể đ a ra kết luận đúng
đắnvề hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề
ra các giải pháp đúng đắn để xử lý.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng và số vốn chủ sở hữu tham gia kinh doanh
trong kỳ.
Công thức xác định:
Tsh(%) =
Vcsh
Pr
x 100%
Trong đó:
Tsh(%) : Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Vcsh : Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ.
Pr : Lợi nhuận sau thuế.
Đây là chỉ tiêu đợc các chủ sở hữu quan tâm nhất, nó thể hiện nếu bỏ một
đồng vốn chủ sở hữu để kinh doanh thì sau cùng sẽ mang lại cho họ ba nhiêu
đồng lợi nhuận.
Ngoài các chỉ tiêu doanh lợi(tỷ suất lợi nhuận) phổ biến kể trên, ngời ta
còn có thể sử dụng các chỉ tiêu doanh lợi khác nh: Doanh lợi vốn đi vay, doanh
lợi vốn cố địn,h, doanh lợi vốn lu động để đánh giá và so sánh kết quả kinh
doanh trong những năm cần thiết.
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
1.2. Sự cần thiết phảI phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
trong đIều kiện hiện nay
1. 2.1.ý nghĩa, tầm quan trọng của lợi nhuận.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh, do vậy nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói
riêng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, ý nghĩa đó đợc thể hiện nh
sau
- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh và là mục đích hoạt động kinh doanh của
một doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh không kể thuộc thành phần kinh tế nào, hoạt động trong lĩnh
vực nào, khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có chung một
mục đích là tìm kiếm lợi nhuận. Chỉ khi sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì
doanh nghiệp mới thu đợc lợi nhuận. Do vậy, lợi nhuận chính là chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả và mục đích hoạt động của sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận ít đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
không đạt đợc mục tiêu kinh doanh của mình .
- Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lợng sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp. Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí đã bỏ ra để thu đợc số doanh thu đó. Mọi biện pháp để tăng doanh
thu, tiết kiệm chi phí sản xuất cuối cùng đều phản ánh ở quy mô của lợi nhuận
của doanh nghiệp. Vì vậy, thông qua xem xét chỉ tiêu lợi nhuận,ta có thể đánh
giá đợc phần lớn chất lợng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để bù đắp các thiệt hại, rủi ro
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Là nguồn tích luỹ để thực hiện tái sản
xuất mở rộng , để thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nớc cũng nh khuyến khích
lợi ích vật chất đối với ngời lao động trong doanh nghiệp .
Lợi nhuận không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với từng doanh nghiệp
mà nó còn có vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vì
đây cũng là nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nớc . Hiện nay Nhà nớc
động viên lợi nhuận của các doanh nghiệp vào ngân sách thông qua hình thức
thuế thu nhập doanh nghiệp .
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
1.2.2.Sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận.
Trớc đây, nền kinh tế nớc ta hoạt động trong cơ chế quản lý kế hạch hoá
tập trung, các doanh nghiệp đợc bao cấp hầu hết về vốn nên lợi nhuận không
phát huy đợc vai trò của mình bởi vì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
không hoàn toàn quan tâm đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Nhng từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng với
nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và có sự sạnh tranh mạnh mẽ
thì lúc này vai trò cũng nh ý nghĩa của lợi nhuận đợc bộc lộ rõ nét và trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết .
Việc doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề lợi nhuận và không ngừng
phấn đấu tăng lợi nhuận xuất phát lý do sau :
Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với các doanh nghiệp .
Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của
toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , nó đóng vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự tăng tr-
ởng của toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung .
Trong thời kỳ bao cấp trớc đây ,vai trò của lợi nhuận cha đợc quan tâm
đúng mức ,do đó nó cha bộc lộ đợc tầm quan trọng của mình .Vai trò của lợi
nhuận chỉ thực sự bộc lộ khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng và lúc
này chính lợi nhuận sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
.Vai trò cũng nh tầm quan trọng của lợi nhuận đợc thể hiện qua những điểm
chủ yếu sau :
Trớc hết lợi nhuận là thớc đo, là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận cho
phép chúng ta có thể đánh giá nhiều mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp từ khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất đến khâu trực tiếp
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng nh trình độ tổ chức và quản lý lao động ,
quản lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh .
Bên cạnh đó lợi nhuận của doanh nghiệp còn là nguồn thu khá quan trọng
của ngân sách Nhà nớc đợc thể hiện dới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nếu các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thu đợc lợi nhuận và lợi nhuận
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
ngày càng cao thì nguồn thu ngân sách của Nhà nớc theo đó cũng tăng lên, từ
đó góp phần thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế quốc dân.
Ngoài ra lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ quan trọng của doanh nghiệp
dùng để bổ sung vốn lu động và vốn cố định, tạo thế và lực mới cho doanh
nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vì chỉ có lợi nhuận thì
doanh nghiệp mới có thể trích lập các quỹ của doanh nghiệp, tạo ra nguồn vốn
đáp ứng cho hoạt động sản xuất, đầu t xây dựng cơ bản hàng năm, nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho toàn thể các bộ công nhân viên thông qua các
khoản chi về phúc lợi xã hội, khen thởng.
Lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế có hiệu lực nhất tác động đến mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay đòi hỏi
các doanh nghiệp phải thực hiện tốt nguyên tắc hạch toán kinh doanh.Yêu cầu
của nguyên tắc này là lấy thu bù chi và có lợi nhuận, nhất là lợi nhuận ròng.
Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải tận dụng những nguồn dự trữ nội bộ, sử
dụng lao động hợp lý có hiệu quả, tiết kiệm nguồn vốn nhằm đem lại hiệu qủa
kinh tế cao nhất.Hơn nữa lợi nhuận còn có vai trò kích thích ngời lao động
quan tâm hơn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua việc sử dụng phần lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp hình thành các
quỹ khen thởng, phúc lợi dành cho ngời lao động một cách hợp lý sẽ góp phần
giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích : lợi ích của ngời lao động, lợi ích của
doanh nghiệp, lợi ích của Nhà nớc.
Lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp dến uy tín
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nếu làm ăn thua lỗ, khả năng thanh toán
yếu kém sẽ làm mất uy tín doanh nghiệp, thậm trí mất khả năng thanh toán
trong một thời gian dài sẽ đẫn đến việc doanh nghiệp bị phá sản hay bị giải thể.
Ngợc lai nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt có hiệu quả thu đợc lợi nhuận cao
không những có khả năng thanh toán ổn định mà còn nâng cao đợc uy tín của
mình trên thơng trờng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng trởng.
Thực tế đã chứng minh rằng bất cứ doanh nghiệp nào dù là doanh nghiệp
Nhà nớc hay t nhân, doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thơng mại khi đã
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
tạo ra đợc thữ tín trên thơng trờng thì các hoạt động sản xuất kinh doanh ngày
càng phát triển , hoạt động có hiệu quả và lợi nhuận thu đợc ngày càng cao .
Tóm lại, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói
riêng và với toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung ,vì vậy phấn đấu tăng lợi
nhuận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đối với các doanh nghiệp, phấn đáu tăn g lợi nhuận sẽ tạo cho doanh
nghiệp có đIều kiện mở rộng phát triển sản xuất, tăng vốn kinh doanh ,đổi mới
máy móc thiết bị, áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất, từ đó không
ngừng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh .
Đối với nền kinh tế, tăng lợi nhuận sẽ thúc đẩy nền sản xuất phát triển
mạnh mẽ hơn, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, từ đó làm tăng
thêm nhu cầu của Nhà nớc về các mặt nh :an ninh, quốc phòng,giáo dục,y tế
đồng thời mở rộng quy mô sản xuất của nền kinh tế, đa nền kinh tế ngày càng
tăng trởng mạnh mẽ.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến lợi nhuận và những phơng hớng
biện pháp cơ bản tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong đIều kiện hiện
nay .
1.3.1 Các nhân tố ảnh hởng đến lợi nhuận .
Chúng ta đã biết, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu đợc từ nhiều
hoạt động khác nhau (hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác). Tuy
nhiên, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỉ trọng lớn trong tổng
doanh thu cũng nh lợi nhuận. Chính vì vậy việc tập trung nghiên cứu các nhân
tố ảnh hởng tới lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần
thiết. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận thu đợc
do bán các sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp .
Lợi nhuận tiêu thụ đợc xác định theo công thức sau :
P
t
= T- Z
t
-T
g
Trong đó : P
t
: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
T :Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ
Z
t
: Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ trong kỳ.
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Tg :Thuế gián thu phải nộp trong kỳ.
Từ công thức tên cho ta thấy lợi nhuận tiêu thụ của doanh nghiệp chịu
ảnh hởng bởi : doanh thu tiêu thụ (doanh thu bán hàng ), giá thành sản phẩm
hàng hoá dịch vụ và các khoản thuế gián thu phải nộp .Tuy nhiên ta thấy rằng
thuế là chỉ tiêu thể hiện nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp đối với nhà nớc
,do đó các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn thành ,vì vậy nó đợc coi nh
không ảnh hởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp .
Nh vậy ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm hai
nhân tố : doanh thu tiêu thụ và giá thành toàn bộ của sản phẩm ,hàng hoá và
dịch vụ tiêu thụ trong kỳ .Tuy nhiên bản thân mỗi nhân tố lại chịu ảnh hởng
của nhiều nhân tố khác. Chính vì thế doanh nghiệp muốn không ngừng phấn
đấu tăng lợi nhuận thì trớc tiên phải đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hởng
đến doanh thu tiêu thụ và giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu
thụ .
a) Nhóm nhân tố ảnh hởng đến giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ tiêu thụ .
Giá thành tòan bộ sản phẩm hàng hoá ,dịch vụ tiêu thụ đợc xác định theo
công thức sau :
Ztb = Zsx + CPBH + CPQLDN
Trong đó: + Ztb : là giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu thụ
+Zsx : là giá thành sản xuất của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu
thụ
+CPBH : là chi phí tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
+CPQLDN : là chi phí quản lý doanh nghiệp
Từ công thức trên, ta nhận thấy ảnh hởng đến giá thành toàn bộ của doanh
nghiệp bao gồm 3 nhân tố sau :
- Giá thành sản xuất sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ : Là biểu hiện bằng
tiền của những khoản chi phí sản xuất sản phẩm đợc tập hợp theo
từng mặt hàng . Những khoản chi phí này bao gồm :
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : bao gồm các chi phí về nguyên
nhiên liệu và động lực tiêu dùng trực tiếp cho sản phẩm hàng hoá ,dịch vụ của
doanh nghiệp .
+ Chi phí về nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản trả cho ngời lao
động trực tiếp sản xuất nh tiền lơng, tiền công và các khoản phụ cấp có tính
chất nh lơng, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn .
+ Chi phí sản xuất chung: bao gồm các khoản chi phí phát sinh ở các
phân xởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp nh: tiền lơng, phụ cấp trả cho
nhân viên phân xởng, chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng cho phân
xởng, khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài .
Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, các khoản mục chi phí
này giảm xuống (tức là giá thành sản xuất hạ )sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận
của doanh nghiệp và ngợc lại .
- Chi phí tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ (chi phí bán hàng) là
những khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đảm bảo cho quá
trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đợc thực hiện . Các
khoản chi phí này phát sinh trong qúa trình tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ nh : tiền lơng, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân
viên bán hàng, chi cho công tác đóng gói, vận chuyển, bảo quản
và các chi phí khác nh chi phí điều tra nghiên cứu thị trờng, chi phí
quảng các giới thiệu sản phẩm sản phẩm
Chi phí tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phụ thuộc vào đặc điểm của sản
phẩm sản xuất, vào điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phơng, tình hình thị tr-
ờng tiêu thụ . Nếu các khoản chi phí tiêu thụ đợc tiết kiệm sẽ góp phần hạ chi
phí, giảm giá thành từ đó làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp . Tuy
nhiên doanh nghiệp phải phấn đấu giảm chi phí một cách hợp lý để không làm
ảnh hởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng .
- Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các khoản chi phí chung khác có liên quan
đến hoạt động của doanh nghiệp nh : tiền lơng, các khoản phụ cấp
cho ban giám đốc và nhân viên quản lý các phòng, ban các khoản
SV: Ngô Duy Phơng Lớp: K39 11.07

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét