Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập

- Chức năng tài chính: đầu t đảm bảo đầy đủ, kịp thời tài chính cần thiết cho
hoạt động sản xuất và tác nghiệp; phân tích đánh giá phơng án đầu t mua sắm
máy, công nghệ mới; cung cấp các số liệu về chi phí cho hoạt động tác nghiệp.
- Chức năng Marketing, cung cấp thông tin về thị trờng cho hoạch định sản
xuất và tác nghiệp, tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trờng với chi
phí thấp nhất.
1.2. Doanh nghiệp thơng mại.
Doanh nghiệp thơng mại xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của nền
sản xuất hàng hoá, nó gắn sản xuất và tiêu dùng đáp ứng ngày càng tăng của đời
sống xã hội. Doanh nghiệp thơng mại là các doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các
công việc mua bán hàng hoá. Bên cạnh đó doanh nghiệp thơng mại ra đời do sự
phân công lao động xã hội, một bộ phận sản xuất và chuyên môn hoá trong việc
trao dổi mua bán, từ đó tổ chức này có chức năng riêng biệt độc lập với bộ phận
sản xuất. Trớc đây theo cách hiểu thông thờng có hai loại hình tổ chức kinh tế đó
là tổ chức sản xuất và tổ chức kinh doanh. Đối với các đơn vị tổ chức sản xuất
chuyên lo việc sản xuất sản phẩm hàng hoá không làm nhiệm vụ kinh doanh còn
đối với đơn vị tổ chc kinh doanh đợc hiểu là tổ chức thơng mại chuyên làm việc
mua bán hàng hoá. Ngày nay, để tồn tại trong một môi trờng cạnh tranh, xu hớng
chung các doanh nghiệp thơng mại có quan hệ chặt chẽ xâm nhập vào các doanh
nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp dịch vụ duới các hình thức đầu t vốn cho sản
xuất, kết hợp thực hiện các dịch vụ trong và sau bán hàng vì vậy thuật ngữ doanh
nghiệp và kinh doanh đuợc sử dụng bao hàm không chỉ các tổ chức kinh tế
chuyên làm nhiệm vụ buôn bán mà các đơn vị đảm nhiệm sản xuất và cung ứng
dịch vụ.

5
2. Cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm.
Xét từ góc độ tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh trong cơ chế kinh tế thị trờng
có thể đợc hiểu là cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng
nhằm giành giật các lợi ích kinh tế về mình.
Xét ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đợc Mác đề
cập nh sau: Cạnh tranh t bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà t bản nhằm thu hút những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch (kinh tế chính trị tập II). ở đây, Mác đã đề
cập đến vấn đề cạnh tranh trong một không gian hẹp chủ nghĩa t bản. Lúc này
cạnh tranh đợc xem là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại, quan niệm về cạnh
tranh đợc nhìn nhận từ góc độ khá tiêu cực.
ở nớc ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây, cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp đợc hiểu một cách cứng nhắc. Trong một thời kỳ dài, chúng ta chỉ
nhìn thấy mặt trái của cạnh tranh, phê phán cạnh tranh, coi cạnh tranh là doanh
nghiệp mạnh đè bẹp doanh nghiệp yếu mà cha thấy đợc mặt tích của cạnh tranh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, quan niệm về cạnh tranh của các doanh
nghiệp ở nớc ta đã đợc thay đổi. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều thừa
nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là môi trờng và động lực của sự phát triển kinh
tế xã hội. Cạnh tranh của các doanh nghiệp đợc quan niệm là cuộc đấu tranh gay
gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ để thu đợc lợi nhuận
lớn nhất đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chúng ta cũng có thể
hiểu theo nghĩa chung nhất cạnh tranh của các doanh nghiệp là sự ganh đua giữa
các doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng hoặc thị trờng mà kết quả cuối
cùng là để tiêu thụ đợc ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.
Nếu xét trong mối tơng quan giữa các doanh nghiệp với nhau và trên cơ sở
nhu cầu mua sắm của xã hội thì chúng ta hiểu cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
là quá trình các doanh nghiệp đa ra các biện pháp kinh tế tích cực sáng tạo nhằm

6
tồn tại đợc trên thị trờng và ngày càng thu đợc nhiều lợi nhuận trên cơ sở tạo ra
các u thế về sản phẩm cũng nh trong tiêu thụ sản phẩm.
2.2. Các loại hình cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể đợc phân loại dựa theo một số tiêu thức khác nhau:
a. D ới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị tr ờng:
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở
quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó mà mức cung nhỏ
hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh càng gay gắt và giá hàng hoá hay dịch vụ đó sẽ
tăng lên.
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: chủ yếu là cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh chính trên vũ đài thị trờng, đồng thời đây
cũng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất có ý nghĩa sống còn đối với các doanh
nghiệp.
ở đây cạnh tranh xoay quay vấn đề: Chất lợng hàng hoá, giá cả và điều kiện
dịch vụ.
b. D ới góc độ thị tr ờng, góc độ thực chứng thì có:
- Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo.
- Thị trờng cạnh tranh không hoàn
+ Độc quyền
+ Cạnh tranh mang độc quyền.
c. D uới góc độ các công đoạn của sản xuất kinh doanh:
- Cạnh tranh trớc khi bán.
- Cạnh tranh trong quá trình bán.
- Và sau khi bán hàng.
Cuộc cạnh tranh này đợc thực hiện bằng phơng thức thanh toán và dịch vụ.
d. Xét theo phạm vi ngành kinh tế ng ời ta chia ra:

7
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa, nhằm mục
đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp hay
đồng minh, giữa các nhà doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm
giành giật lợi nhuận cao nhất.
e. Xét theo phạm vi lãnh thổ: ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và cạnh
tranh quốc tế. Cần lu ý rằng cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay trong thị tr-
ờng nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nớc sản xuất với hàng ngoại
nhập (nhất là hàng nhập lậu).
2.3. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trờng cùng với sự tự do
trong sản xuất kinh doanh, sự đa dạng hoá kiểu hình và nhiều thành phần kinh tế,
nhiều chủ thế kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp sẽ xuất hiện. Lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp là cội nguồn
cho cạnh tranh. Cạnh tranh là bất khả kháng trong cơ chế kinh tế thị trờng. Khác
với cạnh tranh để đoạt một giải thởng nào đó, cạnh tranh về mặt kinh tế là một
cuộc chạy đua không có đích giữa các doanh nghiệp, là một cuộc chạy đua không
đơn cuộc, không phải một lần rồi thôi mà là một quá trình liên tục. Cạnh tranh về
mặt kinh tế của doanh nghiệp để giành thắng lợi hai mục đích đó là: Cạnh tranh
để giành thắng lợi giữa các doanh nghiệp với nhau và cạnh tranh để tiêu thụ đợc
hàng hoá, giành đợc thị trờng hay là cạnh tranh giữa ngời mua với ngời bán.
Trong cơ chế kinh tế thị trờng, cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng đối với
doanh nghiệp khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối
với ngời tiêu dùng cũng nh đối với toàn xã hội.
2.3.1. Đối với doanh nghiệp
- Trong cơ chế kinh tế thị trờng, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Bởi vì cạnh tranh tác động tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh

8
nghiệp. Mà chức năng tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản
xuất kinh doanh, nó có vai trò quyết định trong việc doanh nghiệp có tiếp tục hoạt
động sản xuất kinh doanh hay không.
- Cạnh tranh là động lực cho doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy mỗi doanh
nghiệp tìm các biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Cạnh tranh quyết định vị thế của doanh nghiệp, nó làm tăng hoặc giảm
uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
2.3.2. Đối với ng ời tiêu dùng.
- Cạnh tranh mang lại cho ngời tiêu dùng những loại hàng hoá dịch vụ tốt
hơn, giá cả hợp lý hơn, u việt hơn.
- Cạnh tranh đem đến cho ngời tiêu dùng ngày càng nhiều chủng loại hàng
hoá, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu đa dạng của ngời tiêu dùng. Cạnh tranh sẽ
đem lại sự thoả mãn hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
2.3.3. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung.
- Cạnh tranh là môi trờng, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lợng sản xuất nâng
cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội.
- Cạnh tranh góp phần làm xoá bỏ những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ
những bất bình đẳng trong kinh doanh.
- Cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo
cho các nhà doanh nghiệp, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi, chân chính.
- Cạnh tranh ngày càng nâng cao đời sống xã hội, góp phần gợi mở nhu cầu,
kích thích nhu cầu phát triển.
- Cạnh tranh góp phần làm cho các doanh nghiệp sử dụng tối u các nguồn lực
khan hiếm của xã hội.

9
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực mà cạnh tranh tạo ra cho xã hội, chúng
ta cũng phải thừa nhận những mặt tiêu cực của cạnh tranh.
- Cạnh tranh không lành mạnh sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực.
- Vì bị cuốn hút bởi các mục tiêu của cạnh tranh, các doanh nghiệp đã không
chịu những chi phí cho việc xử lý các chất thải, ô nhiễm môi trờng và các vấn đề
xã hội khác.
- Cạnh tranh có thể làm lãng phí nguồn lực.
- Cạnh tranh có thể có xu hớng dẫn đến độc quyền v v
2.4. Mục đích cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào
đợc bán đều chịu sức ép của cạnh tranh. Cạnh tranh của sản phẩm cùng loại của
các đối thủ khác hoặc cạnh tranh của các sản phẩm thay thế. Sản xuất hàng hoá
ngày càng phát triển, số lợng những nhà cung ứng cũng nh số lợng các doanh
nghiệp ngày càng nhiều, khối lợng hàng hoá đợc cung ứng trên thị trờng ngày
càng tăng thì tình hình cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Lúc đó, thị trờng là vũ đài
của cạnh tranh, là nơi gặp gỡ các đối thủ là các chủ thể kinh doanh mà kết quả là
sẽ có một số doanh nghiệp bị thu hẹp thị trờng của mình, thậm chí bị gạt bỏ ra
khỏi thị ửờng, trong khi đó có một số doanh nghiệp khác lại mở rộng thị trờng và
ngày càng phát triển. Xã hội vẫn tiếp tục phát triển, nhu cầu thị trờng ngày càng
nâng cao và cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì liên tục tiếp diễn. Vẫn có
thể có các doanh nghiệp thành công ở cuộc cạnh tranh này, nhng họ lại bị thất bại
ở chặng đờng tiếp theo, nếu họ không có chiến lợc kinh doanh và các biện pháp
nhằm nâng cao năng lực một cách đúng đắn, thích hợp. Nh vậy, cạnh tranh là một
điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trờng và động lực thúc đẩy sản
xuất hàng hoá, là nội dung cơ chế vận động của thị trờng.
Dù trong hoàn cảnh nào thì mục đích bao trùm của cạnh tranh của doanh
nghiệp vẫn là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, là làm tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp. Từ mục đích cuối cùng đó, trong từng điều kiện hoàn
cảnh cụ thể, doanh nghiệp sử dụng các công cụ cạnh tranh nhằm để đạt đợc

10
mục tiêu trớc mắt. Các mục tiêu cạnh tranh trớc mắt của doanh nghiệp thờng
là:
- Cạnh tranh để làm tăng thị phần hoặc tăng doanh thu.
- Cạnh tranh nhằm mở rộng thị trờng, xâm nhập thị trờng mới.
- Cạnh tranh nhằm đẩy nhanh quá trình tiếp cận sản phẩm mới với thị trờng.
- Cạnh tranh để đánh bại đối thủ, để trả đũa các đối thủ mới xâm nhập.
- Cạnh tranh để nâng cao uy tín của sản phẩm cũng nh uy tín của công ty
trên thơng trờng
3. Đặc điểm cạnh tranh của doanh nghiệp thơng mại trong nền kinh tế thị
trờng.
Cơ chế thị trờng là cơ sở hoạt động của doanh nghiệp thơng mại, đó là cơ
chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn
có của nó, giải quyết ba vấn đề to lớn của tổ chức kinh tế.
Đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng là yếu tố cạnh tranh nó tồn tại trên
cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế. Theo yêu cầu
của quy luật giá trị tất cả các đơn vị kinh doanh phải dựa trên hao phí lao động xã
hội cần thiết. Trong điều kiện đó để đứng vững trên thị trờng họ không thể tính
đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức: giá trị, giá cả, lợi
nhuận, chi phí. Trớc sức ép của nền kinh tế thị trờng với các quy luật cạnh tranh,
quy luật cung cầu, doanh nghiệp thơng mại phải bán cái mà thị trờng cần chứ
không phải bán cái mà mình có hay phơng châm thờng trực của các doanh nghiệp
không bán cái không đợc bán và cái không bán đợc trong các doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh phải mang lại hiệu quả kinh tế xã hội có nghĩa thu nhập
phải bù đắp đợc chi phí đồng thời phải mang lại một khoản lợi nhuận cũng nh
phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với ngân sách nhà nớc. Để đạt đợc mục tiêu đó
không cách nào khác là hạ thấp chi phí kinh doanh bằng chi phí quản lý chặt chẽ
và tránh những chi phí không cần thiết với phơng châm sản phẩm có hàm lợng
chất xám cao, giá cả cạnh tranh có nh vậy doanh nghiệp mới tồn tại đợc.

11
II. Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể tự
duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và có ý chí trên thị trờng cạnh tranh, bảo
đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những
mục tiêu của doanh nghiệp.
Nh chúng ta đã biết, thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trờng
phổ biến trong thực tế. Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trờng cạnh tranh đều có
một vị trí nhất định của nó. Vì thế, nếu một doanh nghiệp tham gia vào thị trờng
mà không có năng lực cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh yếu thì sẽ không thể
tồn tại đợc. Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải là một quá
trình lâu dài, nếu không muốn nói vĩnh viễn nh quá trình duy trì sự sống.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh
tranh cũng phải nhận thức đợc hiện tại mình có khả năng cạnh tranh trên thị trờng
hay không. Nghĩa là hàng hoá của mình có thể bán đợc không và rằng về lâu dài
việc bán hàng có mang lại nhiều lợi nhuận cho mình hay không. Doanh nghiệp
phải thờng xuyên xem xét đánh giá những mặt mà doanh nghiệp có thể làm đợc
tốt hơn so với các đối thủ. Rõ ràng là để doanh nghiệp có khả năng tích luỹ về sức
cạnh tranh trên thị trờng, cần phải có ý chí lâu dài để duy trì và phát triển các lợi
thế cạnh tranh, nhằm nâng cao năng suất và đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao,
một mục tiêu phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào đã tham gia kinh doanh trên
thơng trờng. Một mặt, doanh nghiệp phải đảm bảo tính lâu dài, mặt khác phải lấy
chỉ số tổng hợp về thị phần chiếm đợc làm tiêu biểu. Từ đó doanh nghiệp có thể
đạt đợc lợi nhuận cao và có thể lấy đó làm mục tiêu cần đạt đợc.
2. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Trớc đây, trong cơ chế hoạch hoá tập trung, chúng ta, không một ai nói đến
nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết cho các doanh nghiệp. Bởi vì một thực

12
tế là các doanh nghiệp không phải cạnh tranh với nhau mà chỉ cần thực hiện các
chỉ tiêu kế hoạch do Nhà nớc giao, Nhà nớc sẽ đảm bảo mọi khâu, mọi mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp, tất cả đều thuộc sở hữu của Nhà
nớc và sở hữu tập thể.
Hiện nay, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Cho dù nền kinh tế thị tr-
ờng hay nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng thì nó cũng hoạt động theo các
quy luật khách quan vốn có của kinh tế thị trờng đó là quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh Quy luật cạnh tranh thể hiện các bề nổi rõ của
nền kinh tế thị trờng, vì vậy cạnh tranh là đặc trng cơ bản của kinh tế thị trờng. Có
kinh tế thị trờng tất yếu sẽ có cạnh tranh. Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất.
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế có nhiều thành phần với sự
tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan. Thêm vào
đó, xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày một nhanh, với chính sách mở
cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nớc, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nớc
ngoài tham gia vào lĩnh vực kinh doanh trên thị trờng Việt Nam nên tình hình
cạnh tranh càng trở nên quyết liệt hơn. Đồng thời tiến trình thực hiện cam kết
AFTA, gia nhập WTO đang tới gần thì nâng cao năng lực cạnh tranh lại là vấn đề
sống còn. Khi hàng rào thuế quan dần xoá bỏ và mở rộng hợp tác kinh tế, sẽ là
khó khăn hơn đối với mỗi doanh nghiệp khi giành giật thị trờng và khách hàng từ
tay các công ty xuyên quốc gia hùng mạnh dày kinh nghiệm, các doanh nghiệp
bản địa nhạy bén, năng động cùng sự gia nhập ồ ạt của hàng ngàn doanh nghiệp
mới.
Một tồn tại lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là năng lực
cạnh tranh rất yếu. Rất nhiều doanh nghiệp đã không đứng vững đuợc trớc sự
chuyển đổi của nền kinh tế. Các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra yếu thế hơn so với
các doanh nghiệp nớc ngoài. Hàng hoá sản xuất trong nớc bị hàng hoá nớc ngoài
cạnh tranh gay gắt và chèn ép điêu đứng. Hơn thế nữa, các hình thức kinh doanh,

13
cách làm ăn của các doanh nghiệp trong nớc thờng mang tính chụp giật, đánh quả,
cạnh tranh không lành mạnh. Một thực tế là ít có doanh nghiệp Việt Nam có
chiến lợc kinh doanh riêng cho mình.
Trớc một thực tế khách quan của cạnh tranh trong cơ chế thị trờng và thực trạng
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thì việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là cần thiết khách quan. Thực chất tăng năng lực cạnh tranh
là tạo ra một hay nhiều hơn các u thế về các mặt nh: Giá cả, giá trị sử dụng của sản
phẩm, chất lợng sản phẩm, các dịch vụ, uy tín. Cụ thể là các doanh nghiệp sẽ phải áp
dụng các biện pháp làm giảm chi phí sản xuất, từ đó giảm giá thành đơn vị sản phẩm
và có thể giảm giá bán, áp dụng các công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến, sử dụng
các yếu tố đầu vào có chất lợng và áp dụng các biện pháp quản lý để nâng cao chất l-
ợng sản phẩm và hoàn thiện mạng lới tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp còn
phải áp dụng một số biện pháp khác thông qua các công cụ cạnh tranh khác. Vì vậy,
có thể nói tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là làm thay đổi mối tơng quan
về thế và lực của doanh nghiệp trên thị trờng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
3.1.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi tr ờng vĩ mô.
a. Các nhân tố về mặt kinh tế.
Các yếu tố về mặt kinh tế có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất đối với
việc hình thành và hoàn thiện môi trờng kinh doanh. Đồng thời các yếu tố này
cũng có vai trò ảnh hởng to lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta tăng trởng với tốc độ cao làm
cho thu nhập trong các tầng lớp dân c tăng lên kéo theo sự gia tăng nhu cầu và sức
mua. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp kinh doanh mở rộng quy mô sản
xuất, mở rộng danh mục sản phẩm.
Bên cạnh đó, do nền kinh tế nuớc ta tơng đối ổn định, ít chịu ảnh hởng của
sự suy thoái kinh tế thế giới và khu vực, nên tỷ lệ lạm phát luôn đợc giữ ở mức

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét