Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014
Thực trạng & Một số Giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ - VN
3. Vai trò của đầu t trong nền kinh tế quốc dân
3.1. Đầu t vừa tác động đến tổng cung tổng cầu.
Về mặt cầu: Đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung của toàn
bộ nền kinh. Theo số liệu thống kê của ngân hàng Thế giới, đầu t thờng chiếm
khoảng 30% trong tổng cơ cấu của cả nớc trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động
của đầu t là ngắn hạn. Với tổng cung cha kịp thay đổi, sự thay đổi của đầu t làm
cho tổng cầu tăng kéo theo sản lợng cân bằng tăng theo và giá cả của các yếu tố
đầu vào tăng. Điểm cân bằng thay đổi.
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu t phát huy tác dụng, năng lực mới
đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn, kéo theo sản lợng
tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lợng tăng giá cả giảm cho
phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại kích thích sản lợng sản
xuất tăng hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tích luỹ, phát
triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao động, nâng cao đời sống của
mọi thành viên trong xã hội.
3.2. Đầu t tác động đến sự ổn định của nền kinh tế:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cung và
đối với tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù tăng hay
giảm đều cùng một lúc phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi tăng đầu t, cầu của các yếu tố đầu t tăng làm cho giá của các
hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật t) đến
một lúc nào đó làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của ngời lao động gặp nhiều
khó khăn do tiền lơng ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển
chậm lại. Mặt khác, tăng đầu t làm cho cầu các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất
của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp,
nâng cao đời sống ngời lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động này tạo
điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi đầu t tác động đến hai mặt của nền kinh tế, nhng theo chiều hớng ngợc
lại so với các tác động trên đây. Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các
nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đa ra các chính
5
sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì đợc sự ổn
định của toàn bộ nền kinh tế.
3.3. Đầu t tác động đến tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trởng
ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15 -25% so với GDP tuỳ thuộc vào
ICOR của mỗi nớc
Vốn đầu t
ICOR =
GDP
Từ đó suy ra :
Vốn đầu t
Mức tăng GDP =
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu t. ở
các nớc phát triển ICOR thờng lớn do thừa vốn thiếu lao động, vốn đợc sử dụng để
thay thế công nghệ hiện đại có giá cao. Còn các nớc chậm phát triển ICOR thấp do
thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho
vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Kinh nghiệm cho thấy ICOR trong công nghiệp cao hơn ICOR trong nông
nghiệp. Do đó ở các nớc phát triển, tỷ lệ đầu t thấp thờng dẫn đến tốc độ tăng tr-
ởng thấp, còn đối với nớc đang phát triển, phát triển về bản chất đợc coi là vấn đề
đảm bảo các nguồn vốn đầu t đủ để đạt đợc một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc
dân dự kiến.
3.4.Đầu t và sự chuyển dịch cơ cấu.
Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu có thế
tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo
ra sự phát triển nhanh ở khu vực dịch vụ và công nghiệp. Đối với các ngành nông
lâm ng nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt đợc tốc
độ tăng trởng từ 5 đến 6% là rất khó khăn. Nh vậy chính sách đầu t quyết định quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng
nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
6
3.5. Đầu t với tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ đất nớc
Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công của
công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cờng khả
năng công nghệ của nớc ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt
nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Với trình độ công nghệ lạc
hậu này, quá trình công nghiệp hóa của Việt nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu
không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển công nghệ nhanh và vững.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự nghiên
cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là tự nghiên cứu
hay nhập từ nớc ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu t. Mọi phơng án đối với
công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án không khả thi.
II. Lý luận chung về đầu t phát triển lâm nghiệp
1.Khái niệm về lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một nền kinh tế quốc dân. Trong đó, rừng là đối tợng chủ yếu
của ngành lâm nghiệp, hiện ngành lâm nghiệp đang quản lý 19.000.000 ha rừng và
đất rừng chiếm 575 diện tích cả nớc. Trong đó có 24 triệu dân sinh sống thuộc 54
dân tộc khác nhau. Chính vì vậy, những hoạt động của ngành lâm nghiệp rất đa
dạng và phong phú.
Rừng là một hệ sinh thái, trong đó những loài cây gỗ chiếm vai trò u thế.
Rừng là tài nguyên quý báu của đất nớc, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan
trọng của môi trờng sinh thái, có giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền
với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc. Rừng và đất lâm nghiệp là
hai đối tợng quản lý cơ bản của lâm nghiệp, giữa chúng có mối liên hệ mật thiết
với nhau, do đó việc phân loại rừng chủ yếu dựa trên cơ sở rừng và đất rừng.
Phân loại rừng Theo quyết định 1171/QĐ ngày 30/11/1986 của Bộ trởng Bộ
lâm nghiệp ban hành quy chế quản lý ba loại rừng, rừng sản xuất, rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng. Bản quy chế này đã làm rõ khái niệm phân loại các loại rừng, và
chi tiết phân loại cho từng loại rừng. Theo đó rừng đợc phân loại thành: rừng đặc
dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất
7
2. Lý luận về đầu t phát triển lâm nghiệp
2.1.Định nghĩa và nội dung của đầu t phát triển lâm nghiệp
Đầu t phát triển lâm nghiệp là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại về
tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực
tiếp hoặc gián tiếp trồng và tái tạo rừng để thu về các lợi ích tơng ứng hoặc lớn
hơn nguồn lực đã bỏ ra.
Nội dung đầu t phát triển lâm nghiệp:
- Đầu t theo các khâu của quá trình trồng:
Trồng mới: Là khâu đầu tiên của quá trình trồng rừng, do vậy cần lợng vốn
đầu t lớn, công chăm sóc nhiều, ở khâu này đòi hỏi phải xác định đợc cơ cấu giống
cây trồng hợp lý cho đất.
Khoanh nuôi: Đầu t cho khoanh nuôi rừng là nhằm một phần tái tạo lại rừng
nhằm giúp rừng phát triển.
Quá trình đầu t sẽ là thiếu nếu không có khâu chăm sóc và bảo về rừng
- Đầu t cho các loại rừng: mỗi loại rừng đều có chức năng cũng nh đặc điểm
khác nhau nh:
Đầu t đối với rừng sản xuất đòi hỏi quan tâm nhất đến vốn, lãi suất, cơ cấu
cây trồng, vì trồng rừng sản xuất nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Đối với đầu t cho rừng phòng hộ và rừng đặc dụng đòi hỏi phải quan tâm đến
khâu khoanh nuôi và bảo vệ.
Ngoài các yếu tố trên còn phải quan tâm đến cơ sở lâm sinh, khoa học công
nghệ trong chọn giống và lai giống và bao trùm các yếu tố đó là yếu tố con ngời,
những ngời nghiên cứu khoa học, những ngời chăm sóc và bảo vệ rừng.
Ngoài ra còn có rất nhiều yếu tố tác động đến đầu t phát triển lâm nghiệp và
nó đợc thể hiện rõ nhất trong đặc điểm đầu t phát triển lâm nghiệp.
2.2. Đặc điểm đầu t trong lâm nghiệp.
Thời gian kéo dài
Trồng rừng là cả một quá trình tiêu tốn nhiều thời gian theo chu kỳ dài, có
loài cây phải mất đến 70-80 năm mới đợc khai thác, còn trung bình là 30-40 năm
nh trồng Lim, Táu, Dẻ, Sa và ít nhất cũng phải mất 7- 8 năm nh trồng Bạch đàn,
8
lá Tràm, tai tợng Do vậy mà rừng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố biến
động của thiên nhiên và con ngời dẫn đến những rủi ro trong đầu t. Mặt khác chi
phí đầu t cao, và bao gồm nhiều loại chi phí:
Chi phí cho trồng và chăm sóc cây con đến khi rừng đạt chu kỳ kinh doanh
Xây dựng cơ sở vật chất, bao gồm xây dựng hệ thống đờng lâm nghiệp, đầu t
phong chống cháy rừng hệ thống vờn rừng đợc bảo vệ.
Chi phí những rủi ro ngoài ý muốn của ngời trồng rừng nh sâu bệnh, lửa rừng,
ma bão, hạn hán, chặt trộm, thủ tục vay vốn, cấp giấy phép khai thác, vận chuyển,
tiêu thụ quá phức tạp
Ngoài ra còn phả đầu t rất nhiều sức lực để chăm sóc và bảo vệ rừng trong cả
một quá trình đầu t dài hạn. Thế nên chi phí đầu t ban đầu cao mà lại phải chờ sau
vài thập kỷ sau mới đợc thu hoạch sẽ không thu hút đợc các nguồn đầu t nhất là
đầu t t nhân. Mặt khác những t nhân và hộ gia đình vùng rừng núi thì thiếu điều
kiện về vốn, lao động, kỹ thuật lâm sinh để đầu t. Các t nhân ở thành phố hay ở
nơi đã hội tụ đầy đủ các điều kiện phát triển đầu t, thờng không thích đầu t vào
rừng vừa lâu lại vừa rủi ro cao, lợi nhuận thấp, khó đánh giá đợc, thậm chí hết cả
cuộc đời mà không đợc khai thác cây, không thu lại đợc vốn. Chính vì vậy từ lâu
nay nguồn vốn đầu t trồng rừng chủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nớc cấp. Do
đó việc bảo vệ và phát triển rừng trong giai đoạn tới đòi hỏi nhà nớc phải có chiến
lợc phát triển đồng bộ cũng nh chiến lợc thu hút nguồn vốn tc các thành phần khác
tham gia đầu t vào lâm nghiệp.
Khả năng sinh lợi thấp; thời gian thu hồi vốn lâu:
Trồng rừng trong khoảng thời gian dài không những gây tâm lý không muốn
đầu t là vì vốn đầu t khê đọng lớn nên chịu nhiều sự biến động kinh tế và tự nhiên
xã hội mà còn khả năng sinh lời của vốn đầu t rất thấp. Bởi rừng trồng ở những nơi
có đất xấu khô cằn, vị trí địa lý, địa hình phức tạp, giao thông kém phát triển. Nơi
có điều kiện kinh tế kém phát triển, ngời dân sống chủ yếu dựa vào rừng, sản xuất
theo kiểu tự cung tự cấp. Do đó vốn rừng trồng không những không đợc đầu t mà
còn bị khai thác bừa bãi đế khi đến tuổi khai thác thì sản lợng gỗ thấp giá trị kinh
tế không cao nh trồng Keo, Bạch đàn trong 3 năm chi phí khoảng 3,8- 5 triệu/ha
9
sau 8- 10 năm mới cho thu hoạch từ 80- 100 m
3
/ ha khai thác. Nếu đơn giá gỗ
nguyên liệu bản ở cửa rừng (cha khai thác và vận chuyển ra cửa rừng ngời khai
thác phải chịu) thì cũng chỉ bán đợc 150- 180.000đ/m
3
nh thế tổng số chỉ đạt: 15-
20 triệu/ha trừ chi phí trồng và chăm sóc và công khai thác mất khoảng 6-8 triệu
thì ngời trồng rừng đợc từ 600- 800.000đ/ha/năm là quá thấp mà thời gian thu hồi
vốn là quá lâu. Đó là cha tính đến những rủi ro nh cháy rừng, sâu bệnh, bão lụt,
hạn hán tàn phá.(nguồn: Tổng cục thống kê)
Do thời gian trồng rừng lâu nên thiếu vốn, do định kiến mà ngân hàng cho
vay vốn để trồng rừng cũng chỉ là vay trung hạn ít đợc vay dài hạn. Lãi suất vay
trồng rừng hiện vẫn áp dụng là 0,6% /tháng, nghĩa là sau 10 năm ngời vay trồng
rừng phải trả gấp đôi cả vốn và lãi, hiệu quả lại thấp nh nói ở trên nên hiện nay
không ai dám vay để trồng rừng. Ngời ta đánh giá rất thấp nghề trồng rừng, mà họ
thờng đổ xô đi vào trồng cao su, cà fê, tiêu và các cây ăn quả, tạo ra sự mất cân
đối nghiêm trọng giữa nông nghiệp với sản xuất lâm nghiệp.
Hơn nữa các nhà đầu t thờng nhìn nhận và đánh giá vai trò cũng nh sắp xếp vị
trí của các ngành theo tiền thuế doanh thu hay Tổng giá trị sản xuất của ngành đó
đối với nền kinh tế, do vậy mà ngành lâm nghiệp bị xếp vào hàng kém, bị coi nhẹ và
rất khó đợc các công ty nớc ngoài- công ty liên doanh tham gia góp vốn đầu t.
Một điển hình cho việc liên doanh trồng rừng ở Việt nam bị thất bại là liên
doanh trồng rừng giữa Việt nam và Đài loan ở Kiên Giang giữa công ty Nông lâm
sản Kiên Giang với công ty lâm nghiệp Taipei (Đài bắc). Sau 9 năm trồng rừng đã
phải giải thể. Toàn bộ sản lợng gỗ Bạch Đàn của hơn 20.000 ha rừng Bạch Đàn đã
trồng tính giá trị trên lý thuyết chỉ đạt 19 triệu USD trong khi mọi chi phí bỏ ra đã
lên tới 24- 25 triệu USD và nhà nớc Việt nam đã đồng ý cho công ty quốc tế trồng
rừng Kiên Tài (Kiên Giang- Đài loan) đợc phép giải thể và bồi thờng cho phía Đài
loan hàng chụ triệu ddoUSSD.
Hiệu quả kinh tế xã hội lớn.
Đầu t trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao, nhng thực tế lại rất
khó phân tích tổng hợp đánh giá đợc những con số về giá trị xã hội của nó, nh bảo
vệ môi sinh môi trờng, cho thuỷ lợi, cho phát điện. Đầu t trồng rừng mang lại những
10
giá trị văn hóa, lịch sử to lớn, có khi để lại cho hàng nghìn năm sau những khu rừng
có giá trị cao về bảo tồn quỹ gien, bảo vệ một động thực vật quý hiếm của rừng
nhiệt đới nh vờn Quốc gia Cát Tiên, Cúc Phơng Đầu t trồng rừng còn tạo điều
kiện là tổ ấm cho những loài động vật hoang dại và động vật quý hiếm sinh sống và
phát triển tránh đợc sự tuyệt chủng đang xảy ra ở nhiều nơi trên toàn thế giới.
2.3. Nguồn vốn đầu t phát triển lâm nghiệp.
Đầu t phát triển lâm nghiệp đòi hỏi vốn lớn, do đó việc huy động vốn từ nhiều
nguồn là yêu cầu tất yếu khách quan. Trong đó, mỗi nguồn có những đặc thù khác
nhau về số lợng vốn, về thời hạn vốn, lãi suất, về hình thức đầu t, và khoản mục
đầu t, các nguồn vốn cho đầu t phát triển lâm nghiệp bao gồm các nguồn sau:
* Nguồn vốn ngân sách: Vốn ngân sách nhà nớc là vốn quan trọng nhất,
chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng các nguồn vốn. Vốn ngân sách bao gồm hai
nguồn: Vốn ngân sách trung ơng và vốn ngân sách địa phơng. Vốn ngân sách cung
cấp cho đầu t phát triển lâm nghiệp đợc phân bổ cho các nội dung công việc sau:
- Bảo vệ, rừng, trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, nuôi dỡng rừng, trồng ở
rừng đặc dụng, rừng phòng hộ rất xung yếu và xung yếu.
- Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ trồng và quản lý bảo vệ rừng
- Vốn sự nghiệp quản lý dự án.
Ngoài vốn ngân sách nhà nớc ra, đầu t vào lâm nghiệp có nguồn vốn vay tín
dụng cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với chủ đầu t khi đầu t vào rừng
sản xuất. Nhờ nguồn vốn tín dụng đầu t với sự u đãi về lãi suất, thời gian sẽ giúp
nhà đầu t có đủ nguồn lực để thực hiện đầu t trong một chu kỳ.
* Nguồn vốn tín dụng u đãi: Là nguồn đợc hình thành dới hình thức vay tín
dụng với lãi suất hoặc thời gian u đãi. Nguồn vốn này mang tính chất hỗ trợ
khuyến khích các lâm trờng hay các hộ gia đình tham gia đầu t. Do đó vốn tín
dụng u đãi đợc phân bổ cho các việc sau của quá trình đầu t phát triển lâm nghiệp:
- Bảo vệ rừng, trồng, khoanh nuôi tái sinh, làm giàu rừng tự nhiên ở đầu
nguồn, rừng sản xuất.
- Xây dựng rừng, trang trại, và trồng cây ăn quả. Trồng rừng đặc dụng,
rừng phòng hộ rất xung yếu đề nghị nhà nớc cho vay không lãi.
11
Ngày nay trong xu thế phát triển của thế giới thì nguồn vốn t nhân ngày
càng trở nên quan trọng và đó là nguồn có hiệu quả đầu t cao nhất. Tuy nhiên
trong lĩnh vực đầu t phát triển lâm nghiệp thì nguồn vốn tự có lại rất ít, bởi đầu t
cho lâm nghiệp mang lại lợi nhuận thấp, hơn nữa lại phải đầu t trong thời gian dài,
khê đọng vốn lớn.
* Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp: Là nguồn vốn đợc hình thành từ lợi
nhuận của doanh nghiệp hoặc trích từ quỹ khấu hao tài sản cố định của doanh
nghiệp. Trong thực tế ngành lâm nghiệp cho thấy nguồn vốn này chiếm một tỷ
trọng rất thấp và đợc sử dụng chủ yếu và những công việc sau:
* Xây dựng vờn quả, trồng cây công nghiệp, trồng cây phân tán kết hợp cung
cấp gỗ, củi cung cấp cho nhà máy ván ép nhân tạo hay nhà máy nguyên liệu giấy.
* Nguồn vốn tự có của dân c: Là nguồn vốn đợc hình thành từ tiền vốn của
dân c đầu t vào phát triển lâm nghiệp. Vốn tự có của dân thờng nhỏ, phân tán, chủ
yếu đầu t phát triển mô hình kinh tế vờn rừng, trang trại.
* Nguồn vốn nớc ngoài: Là nguồn vốn đợc hình thành từ tiền vay, tài trợ, hay
tiền đầu t trực tiếp của các tổ chức quốc tế, các chính phủ, hay của t nhân nớc
ngoài vào đầu t phát triển lâm nghiệp.
Nguồn vốn đầu t nơc ngoài sẽ là nguồn quan trọng trong xu hớng đang phát
triển của nớc ta, nó sẽ góp phần tạo cú huých để thúc đẩy không chỉ ngành lâm
nghiệp mà tất cả các ngành nghề khác cùng phát triển.
2.4. Các chỉ tiêu kết quả và hiệu của đầu t phát triển lâm nghiệp.
Các chỉ tiêu kết quả: Các chỉ tiêu kết quả thể hiện thành quả, cũng nh mặt
yếu mặt mạnh của quá trình đầu t. Những kết quả mà công cuộc đầu t đạt đợc
trong một thời gian nhất định. Kết quả đợc thể hiện qua các chỉ tiêu sau: Diện tích
rừng, sản lợng gỗ, một số cơ sở chế biến, sản xuất lâm sản và thị trờng đầu ra, tổng
giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Các chỉ tiêu hiệu quả đầu t: Hiệu quả tài chính một chỉ tiêu quan trong phản
ánh hiệu quả của đầu t, hiệu quả tài chính của hoạt động đầu t phát triển lâm nghiệp
là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển lâm nghiệp và nâng cao đời sống của ngời dân
đặc biệt ngời dân lao động trong ngành lâm nghiệp trên cơ sở vốn đầu t đã sử dụng
vào khoản mục đầu t phát triển lâm nghiệp. Phân tích tài chính thông qua chỉ tiêu
12
NPV là việc sử dụng chỉ tiêu tài chính đánh giá chi phí đầu t cũng nh hiệu quả tài
chính của công cuộc đầu t. Các quyết định đầu t thờng đợc phê duyệt thông qua các
phép phân tích giá trị hiện tại thực, mà nhờ đó các chi phí và lợi nhuận tơng ứng đợc
điều chỉnh theo phép so sánh tại một thời điểm chung.
n n
B
t
(1+r)
n-1
- C
t
( 1+r )
n-1
i=0 i=0
NPV =
(1+r)
n
Trong đó: Bt= Tổng thu nhập ở cuối năm t
Ct= Chi phí phải chi trả vào thời điểm đầu năm thứ t
n= Số chu trình vòng quay, tính bằng năm.
t= Số năm tính từ khi bắt đầu đầu t
r= Tỷ lệ lãi suất hàng năm.
Hiệu quả đầu t luôn là vấn đề hàng đầu đợc quan tâm đối với bất kỳ công
cuộc đầu t nào. Với đặc thù của đầu t phát triển lâm nghiệp, hiệu quả đầu t của
công cuộc đầu t vào lâm nghiệp không chỉ đơn thuần đạt hiệu quả tài chính mà
hiệu quả kinh tế xã hội là mục tiêu tâm điểm của công cuộc đầu t. Lợi ích kinh tế
xã hội chính là kết quả so sánh (có mục đích) giữa cái mà xã hội phải trả cho việc
sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt nhất và lợi ích do đầu t tạo ra
cho toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả kinh tế xã hội của đầu t phát triển lâm nghiệp
thể hiện qua các chỉ tiêu: Nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trờng; Nâng cao đời
sống của dân c; Tăng số lao động có việc làm; Tận dụng và khai thác lợi thế so
sánh, tài nguyên thiên nhiên; Phát triển kinh tế xã hội ở địa phơng.
* Quan điểm phát triển lâm nghiệp vùng Bắc trung bộ.
Đứng trên giác độ Vĩ mô của nền kinh tế cũng nh góc độ vi mô, đầu t phát
triển lâm nghiệp Bắc Trung Bộ có một vị trí quan trọng trong cơ cấu đầu t phát
triển của cả vùng.
Thứ nhất, phát triển lâm nghiệp phải gắn với việc bảo vệ và phát triển bền
vững của khu vực. Chuyển lâm nghiệp chủ yếu là khai thác tài nguyên rừng sang
13
bảo vệ xây dựng và phát triển rừng. Lấy lâm sinh làm nhiệm vụ hàng đầu, tạo một
hệ sinh thái ổn định, bền vững, phát huy tốt chức năng phòng hộ đầu nguồn.
Thứ hai, phát triển lâm nghiệp toàn diện và có thể có hệ thống, trên cơ sở
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lâm nghiệp xã hội, khuyến khích mọi thành
phần kinh tế tham gia làm nghề rừng.
Thứ ba, xây dựng các vùng trọng điểm, các vùng động lực phát triển lâm
nghiệp, vùng đầu nguồn tạo ra nhiều vùng sản xuất hàng hoá ổn định. Phát triển
lâm nghiệp gắn với việc bảo tồn và phát huy nền văn hoá truyền thống của các dân
tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực con ngời.
Thứ t, lấy khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định đến hiệu quả sản xuất
lâm nghiệp, chú trọng công nghệ lâm sinh và chế biến lâm đặc sản.
Thứ năm, Đầu t phát triển lâm nghiệp Vùng Bắc Trung Bộ không chỉ là việc
đầu t thu lợi nhuận tài chính đơn thuần mà đầu t phát triển lâm nghiệp còn là
nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, từ đó khuyến khích đến mọi thành viên trong xã hội
tham gia trồng và bảo vệ rừng.
III. vai trò và sự cần thiết phải đầu t vào lâm nghiệp vùng bắc
trung bộ
1.Vai trò của lâm nghiệp và lâm nghiệp Bắc Trung Bộ.
Lâm nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhiều
dự thảo chiến lợc quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trờng báo động một nguy
cơ khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng ở nớc ta, nh là hệ quả của một quá trình
dài sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý và sự gia tăng dân số. Trong đó
đối tợng hay nhân tố đầu tiên ảnh hởng đến môi trờng là rừng, một tài nguyên quý
có khả năng tái tạo phát triển, là bộ phận quan trọng của môi trờng và đóng vai trò
chủ lực trong các hệ sinh thái tự nhiên, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc
dân, gắn liền với đời sống của con ngời và sự sống còn của dân tộc.
Vai trò đầu tiên và cũng là vai trò quan trọng nhất của lâm nghiệp là Bảo vệ
môi trờng sinh thái; từ xa xa, rừng đã đợc coi là một trong những yếu tố trụ cột của
môi trờng sống. Ngời nguyên thuỷ đã biết dựa vào rừng để thu hái hoa quả, cung
cấp nguyên liệu cho sởi ấm, làm vũ khí để săn bắn, làm lều lán, nhà cửa, hàng
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét